Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW và các định hướng cải cách tư pháp, hoạt động tố tụng hình sự (TTHS) của Việt Nam đặt trọng tâm vào giai đoạn xét xử của Tòa án. Để bảo đảm phán quyết của Tòa án khách quan, đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội và không bỏ lọt tội phạm, chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung (THSĐTBS) giữ vai trò là công cụ pháp lý quan trọng nhằm khắc phục các thiếu sót trong giai đoạn khởi tố, điều tra và truy tố. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 cho thấy hoạt động này vẫn còn những bất cập: nhiều vụ án bị trả hồ sơ thiếu căn cứ, việc trả hồ sơ kéo dài hoặc bị trả lại nhiều lần, gây ảnh hưởng trực tiếp đến thời hạn giải quyết vụ án và quyền lợi của người tham gia tố tụng.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Khương Thanh Tùng (Trường Đại học Luật Hà Nội, người hướng dẫn: TS. Vũ Gia Lâm) tập trung nghiên cứu toàn diện chế định này với các nội dung cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Đưa ra các giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả việc THSĐTBS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội và trên phạm vi cả nước.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và làm rõ khái niệm, ý nghĩa, căn cứ, thẩm quyền của việc THSĐTBS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
    2. Phân tích quá trình phát triển lập pháp và các quy định hiện hành của BLTTHS năm 2015 cùng văn bản hướng dẫn áp dụng.
    3. Khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng chế định THSĐTBS tại Tòa án nhân dân (TAND) thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2019 đến tháng 8/2023, chỉ ra những ưu điểm và vướng mắc thực tế.
    4. Đề xuất các giải pháp lập pháp và giải pháp thực hiện nhằm nâng cao chất lượng áp dụng chế định.
  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề lý luận, quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về THSĐTBS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thi hành các quy định này.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào các quy định của BLTTHS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn liên quan đến THSĐTBS trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa sơ thẩm.
    • Về không gian và thời gian: Xem xét thực tiễn áp dụng tại TAND thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2019 đến tháng 8/2023 (với chuỗi số liệu thống kê chi tiết từ năm 2020 đến tháng 8/2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp và bảo vệ quyền con người.

  • Khung pháp lý và tài liệu lập pháp:
    • Hiến pháp năm 2013;
    • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và các bộ luật tiền nhiệm (BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003);
    • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    • Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung;
    • Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC; Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 08/12/1988.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm lý luận, cấu trúc thẩm quyền, căn cứ pháp lý và trình tự thủ tục THSĐTBS.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định của BLTTHS năm 2015 với BLTTHS năm 1988, BLTTHS năm 2003 và hệ thống văn bản hướng dẫn qua từng thời kỳ lịch sử.
    • Phương pháp thống kê tư pháp: Tổng hợp, phân loại và xử lý các chuỗi số liệu thực tế về thụ lý, xét xử sơ thẩm, số lượng vụ án trả hồ sơ và tỷ lệ chấp thuận/từ chối của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND).
  • Nguồn dữ liệu: Báo cáo tổng kết công tác chuyên môn định kỳ của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2020 đến tháng 8/2023, kết hợp các công trình luận văn thạc sĩ và bài báo nghiên cứu chuyên ngành TTHS đã công bố.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 1 làm sáng tỏ nền tảng lý luận và quá trình phát triển của quy phạm pháp luật TTHS về chế định THSĐTBS:

  • Khái niệm và bản chất pháp lý:
    • Xét xử: Tác giả định nghĩa xét xử là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do Tòa án có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, với kết quả là bản án hoặc quyết định có hiệu lực bắt buộc.
    • Hồ sơ vụ án hình sự: Là tập hợp toàn bộ các văn bản, chứng cứ, biên bản tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, lập ra từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử (theo Điều 191 BLTTHS năm 2015).
    • Trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Khóa luận đưa ra định nghĩa chuẩn: Là việc Thẩm phán chủ tọa phiên tòa (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (tại phiên tòa) phát hiện hồ sơ thiếu chứng cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định, cần truy tố thêm người, thêm tội hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà không thể khắc phục tại phiên tòa, ra quyết định chuyển hoàn lại hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đã truy tố để tiến hành điều tra bổ sung.
  • Ý nghĩa của chế định: Thể hiện ở hai khía cạnh:
    • Ý nghĩa tích cực: Bảo vệ quyền con người, quyền công dân; bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN (Điều 7 BLTTHS năm 2015); tránh bỏ lọt tội phạm và chống oan sai; nâng cao trách nhiệm của Cơ quan điều tra (CQĐT) và Viện kiểm sát (VKS).
    • Tác động tiêu cực nếu lạm dụng: Kéo dài thời gian tố tụng, xâm phạm quyền lợi của bị can/bị cáo đang bị tạm giam và làm phát sinh lãng phí chi phí tư pháp.
  • Lịch sử lập pháp qua các thời kỳ:
    • Giai đoạn 1945–1960: Áp dụng mô hình tố tụng của Pháp, chưa ghi nhận chế định THSĐTBS. Chế định bắt đầu manh nha từ sau khi ban hành Luật Tổ chức TAND và Luật Tổ chức VKSND năm 1960, cùng Chỉ thị ngày 15/7/1960 của TAND tối cao, Đề án 1084-NCPL và Thông tư 16-TATC năm 1974.
    • BLTTHS năm 1988: Lần đầu pháp điển hóa chính thức tại Điều 154 và Điều 173; Thông tư liên ngành số 01/TTLN năm 1988 quy định thời hạn điều tra bổ sung tối đa là 01 tháng nhưng chưa khống chế số lần trả hồ sơ.
    • BLTTHS năm 2003: Ghi nhận giới hạn Tòa án chỉ được trả hồ sơ không quá 2 lần, được cụ thể hóa bằng Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP và Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC.
  • Quy định của BLTTHS năm 2015 và TTLT số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP:
    • Thẩm quyền: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (Khoản 1 Điều 277); Hội đồng xét xử tại phiên tòa (Điểm c Khoản 6 Điều 326); Thẩm phán được phân công giải quyết theo thủ tục rút gọn (Điều 24, Điều 463). Điểm tiến bộ là Điều 252 cho phép Tòa án quyền tự xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ thay vì phải trả hồ sơ.
    • 4 căn cứ trả hồ sơ (Điều 280):
      1. Thiếu chứng cứ chứng minh một trong các vấn đề quy định tại Điều 85 hoặc Điều 441 BLTTHS (chứng minh hành vi phạm tội; thời gian, địa điểm; người thực hiện; lỗi; năng lực TNHS; động cơ, mục đích; tăng nặng, giảm nhẹ; nhân thân; thiệt hại; nguyên nhân, điều kiện; tuổi của người dưới 18; vai trò đồng phạm; bồi thường dân sự; điều kiện TNHS của pháp nhân thương mại). Có 2 trường hợp thiếu chứng cứ nhưng không trả hồ sơ: vụ án vẫn xét xử được hoặc có trả cũng không thể thu thập thêm được.
      2. Có căn cứ cho rằng bị can, bị cáo còn thực hiện hành vi khác mà BLHS quy định là tội phạm (tội danh khác hoặc tội độc lập khác).
      3. Có căn cứ còn có đồng phạm khác hoặc người khác thực hiện hành vi phạm tội liên quan chưa được khởi tố (căn cứ mới so với BLTTHS năm 2003).
      4. Khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng (liệt kê cụ thể: thiếu phê chuẩn của VKS; không chỉ định người bào chữa theo Điều 76, Điều 77; sai tư cách đương sự; khởi tố không có yêu cầu bị hại theo Khoản 1 Điều 155; nhập/tách vụ án trái quy định; không giao văn bản tố tụng; chưa lập lý lịch bị can; thiếu người phiên dịch Điều 70; vi phạm quy định thay đổi người tiến hành tố tụng; thu thập chứng cứ trái luật; sửa chữa/làm sai lệch hồ sơ; sai thẩm quyền; có bức cung, nhục hình; không giải quyết khiếu nại, tố cáo).
    • Thời hạn và số lần trả: Thẩm phán chủ tọa chỉ được trả 01 lần và HĐXX chỉ được trả 01 lần (Khoản 2 Điều 174). Thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng tính từ ngày CQĐT nhận lại hồ sơ. Bất cập phát hiện: BLTTHS năm 2015 chưa có điều khoản quy định thời hạn tối đa VKS phải chuyển hồ sơ cho CQĐT sau khi nhận quyết định từ Tòa án.

Chương 2: Thực tiễn trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội và một số kiến nghị

Chương 2 phản ánh số liệu thực tế tại TAND thành phố Hà Nội (cơ quan có 192 biên chế, gồm 64 Thẩm phán, 124 Thư ký và chức danh khác; 35 Thạc sĩ Luật, 143 Cử nhân; quản lý 30 TAND cấp huyện):

  • Số liệu thụ lý và xét xử sơ thẩm (2020 – tháng 8/2023):
STT Năm Thụ lý (Vụ) Thụ lý (Bị can) Xét xử (Vụ) Xét xử (Bị cáo)
1 2020 2.870 5.840 2.347 3.780
2 2021 2.500 4.155 2.086 3.696
3 2022 2.650 5.096 2.170 3.762
4 8 tháng đầu 2023 2.219 3.094 1.751 3.535
Tổng Giai đoạn 2020 – 8/2023 10.239 18.185 8.354 14.773
  • Tình hình trả hồ sơ để điều tra bổ sung:
Năm Tổng số vụ xét xử (vụ) Số vụ trả hồ sơ để ĐTBS (vụ) Tỷ lệ (%)
2020 2.347 125 5,32%
2021 2.086 85 4,07%
2022 2.170 97 4,47%
8 tháng đầu 2023 1.751 66 3,77%

Tỷ lệ vụ án phải THSĐTBS trung bình hàng năm tại TAND TP Hà Nội chiếm khoảng 4% - 5%, cho thấy chất lượng điều tra, truy tố nhìn chung tương đối bảo đảm.

  • Tương quan quan điểm giữa Tòa án và Viện kiểm sát đối với quyết định trả hồ sơ:
Năm Tổng số vụ trả hồ sơ (vụ) VKS chấp nhận điều tra bổ sung (vụ) Tỷ lệ VKS chấp nhận (%) VKS không chấp nhận trả hồ sơ (vụ) Tỷ lệ VKS không chấp nhận (%)
2020 125 53 42,4% 72 57,6%
2021 85 38 44,7% 47 55,3%
2022 97 43 44,3% 54 55,7%
8 tháng đầu 2023 66 29 43,9% 37 56,1%
  • Đánh giá thực trạng áp dụng:
    • Ưu điểm: Việc trả hồ sơ cơ bản có căn cứ; các yêu cầu bổ sung chứng cứ giúp định tội danh, khung hình phạt chính xác; nhiều vụ án dẫn đến đình chỉ kịp thời do không cấu thành tội phạm hoặc hết thời hiệu truy cứu TNHS; tuân thủ đúng trình tự chuyển giao hồ sơ và thời hạn tố tụng.
    • Hạn chế, vướng mắc: Tỷ lệ Viện kiểm sát không chấp nhận quyết định trả hồ sơ của Tòa án chiếm tỷ lệ rất cao (đều trên 55% mỗi năm, từ 55,3% đến 57,6%); vẫn còn những vụ án sau khi VKS chấp nhận điều tra bổ sung nhưng kết quả điều tra không làm thay đổi bản cáo trạng; phát sinh trường hợp Tòa án trả hồ sơ chưa thực sự cần thiết hoặc trả sát thời điểm hết hạn chuẩn bị xét xử.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Giải pháp lập pháp: Bổ sung quy định rõ ràng về thời hạn VKS phải chuyển giao hồ sơ cho CQĐT sau khi nhận quyết định trả hồ sơ từ Tòa án; hoàn thiện cơ chế, tiêu chí đánh giá vi phạm tố tụng nghiêm trọng và phạm vi tự thu thập chứng cứ của Tòa án theo Điều 252 BLTTHS năm 2015.
    • Giải pháp tổ chức thực hiện: Tăng cường trách nhiệm và kỹ năng nghiệp vụ của Thẩm phán, Kiểm sát viên; tổ chức các buổi làm việc, họp giao ban liên ngành (Công an - Viện kiểm sát - Tòa án) trước khi đưa vụ án ra xét xử để thống nhất các chứng cứ còn mâu thuẫn; tăng cường kiểm tra, thanh tra nghiệp vụ xét xử.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả thực chứng: Khóa luận đã hệ thống hóa bức tranh toàn cảnh về hoạt động xét xử sơ thẩm hình sự tại địa bàn TP Hà Nội từ năm 2020 đến tháng 8/2023 với tổng số 10.239 vụ án thụ lý (18.185 bị can) và 8.354 vụ án đã xét xử sơ thẩm (14.773 bị cáo). Tác giả đã chứng minh tỷ lệ trả hồ sơ duy trì ở mức 3,77% - 5,32%, đồng thời chỉ rõ sự lệch pha nhận thức pháp lý khi tỷ lệ VKS không chấp nhận trả hồ sơ luôn chiếm trên 55% tổng số vụ trả hàng năm.
  • Đề xuất giải pháp: Đưa ra 2 nhóm giải pháp đồng bộ: hoàn thiện các khoảng trống trong BLTTHS năm 2015 (đặc biệt là thời hạn luân chuyển hồ sơ giữa VKS và CQĐT) và nhóm giải pháp nâng cao chất lượng phối hợp liên ngành tư pháp.
  • Đóng góp khoa học: Đây là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên khảo sát trực tiếp thực tiễn áp dụng chế định THSĐTBS theo BLTTHS năm 2015 tại TAND thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2019 – 2023, bổ sung dữ liệu thực tế cho khoa học luật tố tụng hình sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Số liệu thống kê thực tiễn của công trình dừng lại ở mốc tháng 8 năm 2023 nên chưa phản ánh trọn vẹn số liệu của cả năm 2023; nghiên cứu chủ yếu tập trung vào địa bàn thành phố Hà Nội nên các đánh giá mang tính đặc thù của đô thị lớn, chưa mở rộng so sánh chuyên sâu với các địa phương miền núi hoặc các tỉnh có cơ cấu tội phạm khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục khảo sát, cập nhật số liệu các năm tiếp theo; đi sâu phân tích tác động của cơ chế Tòa án tự xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 252 BLTTHS năm 2015 nhằm hạn chế việc trả hồ sơ; xây dựng các tiêu chí định lượng chi tiết để giải quyết tình trạng bất đồng quan điểm tố tụng giữa Tòa án và Viện kiểm sát.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học (chuyên ngành TTHS): Cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh, lịch sử lập pháp từ năm 1945 đến nay, và kỹ thuật phân tích các quy định tại Điều 174, Điều 277, Điều 280, Điều 326 BLTTHS năm 2015.
  • Cán bộ thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư): Cung cấp danh mục tổng hợp chi tiết các hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và các căn cứ thiếu chứng cứ theo Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP để áp dụng trực tiếp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa.

Câu hỏi thường gặp

1. BLTTHS năm 2015 quy định giới hạn số lần Thẩm phán và Hội đồng xét xử được trả hồ sơ để điều tra bổ sung như thế nào?
Khoản 2 Điều 174 BLTTHS năm 2015 quy định rõ: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần. Quy định này khắc phục cách hiểu không thống nhất của quy định "không quá hai lần" tại BLTTHS năm 2003.

2. Điểm mới nổi bật về căn cứ trả hồ sơ tại Khoản 1 Điều 280 BLTTHS năm 2015 so với BLTTHS năm 2003 là gì?
BLTTHS năm 2015 bổ sung thêm một căn cứ hoàn toàn mới: Có căn cứ cho rằng vụ án còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

3. Tỷ lệ Viện kiểm sát không chấp nhận quyết định trả hồ sơ của TAND TP Hà Nội giai đoạn 2020 – tháng 8/2023 là bao nhiêu?
Theo thống kê trong khóa luận, tỷ lệ VKS không chấp nhận việc trả hồ sơ luôn chiếm trên 55% mỗi năm: năm 2020 là 57,6% (72/125 vụ); năm 2021 là 55,3% (47/85 vụ); năm 2022 là 55,7% (54/97 vụ); và 8 tháng đầu năm 2023 là 56,1% (37/66 vụ).

4. Có trường hợp nào hồ sơ thiếu chứng cứ theo Điều 85 BLTTHS nhưng Tòa án không thực hiện trả hồ sơ để điều tra bổ sung không?
Theo Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP, có 02 trường hợp dù thiếu chứng cứ nhưng không tiến hành trả hồ sơ: (1) Thiếu chứng cứ nhưng vụ án vẫn tiến hành truy tố, xét xử được; (2) Có trả hồ sơ thì cũng không thể thu thập thêm được chứng cứ đó (như hiện trường bị xáo trộn mất dấu vết, người làm chứng đã chết hoặc mất tích trước khi mở phiên tòa).

5. Điểm bất cập về thời hạn trong quy trình trả hồ sơ mà tác giả khóa luận chỉ ra là gì?
BLTTHS năm 2015 quy định thời hạn CQĐT điều tra bổ sung không quá 01 tháng kể từ khi nhận lại hồ sơ, nhưng luật chưa có điều khoản quy định thời hạn cụ thể mà Viện kiểm sát phải chuyển tiếp hồ sơ cho Cơ quan điều tra sau khi nhận hồ sơ từ Tòa án.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Khương Thanh Tùng là công trình nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận và các quy định của BLTTHS năm 2015 về chế định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử sơ thẩm. Thông qua việc phân tích chuỗi số liệu thực tế tại TAND thành phố Hà Nội giai đoạn 2020 – tháng 8/2023, tác giả đã chỉ rõ những ưu điểm cũng như nút thắt lớn về tỷ lệ bất đồng quan điểm giữa Tòa án và Viện kiểm sát (hơn 55% số vụ bị từ chối). Các giải pháp lập pháp và kiến nghị thực tiễn được đề xuất trong khóa luận có giá trị ứng dụng cao, góp phần nâng cao chất lượng xét xử và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự.