MỞ ĐẦU 1. Tinh cap thiét cua dé tai. Trong lý luận và thực tiến tố tung hình sự, chứng cứ va quá trình chứng minh mà nội dung của nó được hợp thành bởi các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, là những vấn đề phức tạp và có tính hệ trọng cao. Việc nhận thức đúng dan, đầy đủ về các vấn đề nêu trên và nhất là hiện thực hoá nhận thức đó trong thực tiến tố tụng hình sự một cách khoa học, hợp lý có ý nghĩa to lớn đối với hiệu qua hoạt động giải quyết vụ án hình sự.
Nhưng hiện flay, trong BLTTHS các quy định vẻ chứng cứ và quá trình chứng minh còn khá sơ lược, chưa cụ thể. Trong khoa học luật tố tụng hình sự còn không ít vấn đề lý luận cơ bản về chứng cứ như bản chất của chứng cứ. đối tượng chứng minh, giới hạn chứng minh. nội dung cụ thể của các hoạt động thu thập.
kiểm tra, đánh giá chứng cứ. còn chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng nên tồn tai nhiều cách hiểu, giải thích chưa thống nhất. trong thực tiền tố tung hình sự, vì nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau. việc tiến hành các hoạt động thuộc nội dung của quá trình chứng minh tội phạm cũng bộc lộ nhiều khiếm khuyết cần được kịp thời khắc phục.
việc nghiên cứu để thống nhất nhận thức những vấn dé lý luận về chứng cứ và quá trình chứng mình trong tố tụng hình sự cũng như đánh giá một cách chính xác thực trạng tình hình thu thập. đánh giá chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tung những nam qua nhằm tạo cơ sở khoa học và thực tiên cho những đẻ xuất hoàn thiện pháp luật tô tụng hình sự và nâng cao hiệu qua của các hoạt động néu trên trong thực tiên là rất cần thiết. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước Như đã khăng dinh, chứng cứ và quá trình chứng minh trong tố tụng hình su là những nội dung rất quan trọng của luật to tụng hình sự mà việc nhậm hức đúng dan, day đủ về chúng có tác động lớn đến hiệu quả của thực tiến lkởi tố, điều tra, truy tố. xét xử các vụ án hình sự.
Mac dù vậy, những nội dung iy ở Việt Nam mới bước đầu được nghiên cứu và kết quả còn rất khiêm tốn. Cần đây, xuất hiện một số bài viết về chứng cứ nhưng nội dung còn sơ lược. :h¡ dừng lại ở việc phân tích một số vấn đề cụ thể của nội dung lớn đó. Quá trình chứng minh cũng mới được đề cập đến ở mức độ sơ sài, chung nhất.
Tromg giáo trình chuyên ngành của một số trường đại học (Đại học Luật Ha Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân.) chứng cứ và chứng minh cũng chỉ được giới thiệu ở mức độ các tri thức cơ bản, các quan điểm chung nhất. Có thể nói, cho din nay ở Việt Nam chưa có một công trình khoa học tương xứng nào nghiên cứu một cách đầy đủ, cụ thể về những nội dung quan trọng đã nều. Các tài liệu của các nước tư bản về chứng cứ và chứng minh hiện có ở Việt Nam không nhiều. phần lớn lại chưa được dịch ra tiếng Việt.
chủ nghĩa trước đây, nhất là ở Liên Xô (cũ), những nội dung trên được quan :âm nghiên cứu từ lâu và có nhiều thành tựu đáng kể nhưng các công trình loại này tại Việt Nam không nhiều, lại tương đối cũ và chủ yếu tập trung ở việc giới thiệu các quan điểm khác nhau về chứng cứ là chính. Hơn nữa, quan điểm của hai hệ thống pháp luật về chứng cứ và chứng minh có nhiều điểm khác biệt, đòi hỏi có sự nghiên cứu, phân tích kỹ lưỡng trước khi tiếp thu, vàn dụng vào lý luận và thực tiên tố tụng hình sự ở Việt Nam. Phuong pháp nghiên cứu đẻ tài. Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác-xít.
tu tưởng Hồ Chí Minh. quan điểm của Dang và Nhà nước ta vẻ công tác đấu tranh phòng. chong tội phạm nói chung, giải quyết các vụ án hình sự nói riêng. Cúc phương pháp cụ thẻ sau được sử dung trong quá trình nghiên cứu đề tài: + Phương pháp nghiên cứu tài liệu: + Phương pháp phân tích: + Phương pháp tong hợp: + Phương pháp so sánh: + Phương pháp toa đàm.
Mục đích nghiên cứu đề tài. Việc nghiên cứu đề tài nhằm đạt được những mục đích cụ thể sau: - Hệ thống hoá, phân tích nhằm làm rõ những điểm hợp lý và bất hợp lý trong các quan điểm khác nhau về chứng cứ trong tố tụng hình sự, trên cơ sở đó dé xuất các quan điểm khoa học về vấn dé này nhằm hoàn thiện các qui định của BLTTHS về chứng cứ: - Trên cơ sở phân tích các qui định của BLTTHS về quá trình chứng minh đề tài sẽ làm rõ những ưu điểm cũng như nhược điểm của các qui định này từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật; - Trên cơ sở phân tích đặc điểm của hoạt động chứng minh trong cá œ giai đoạn điều tra, xét xử. đề tài sẽ đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của các hoạt động nay. Đối tượng nghiên cứu.
- Các quan điểm về chứng cứ và chứng minh của một số nước như My, Pháp. - Các quan điểm về chứng cứ và quá trình chứng minh trong lý luận và pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành: - Đặc điểm hoạt động thu thập. đánh giá chứng cứ trong thực tiên :ố tụng hình sự Việt Nam những năm qua: - Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu qua của quá :rinh chứng minh. Nhu cau kinh tế - xã hoi và địa chi 4p dụng.
Hiện nay, nhận thức vẻ chứng cứ và chứng minh của nhiều cán bộ nghicn cứu và thực tiên còn chưa day đủ. thậm chí còn chưa chính xác. Ngay trong BLTTHS hiện hành. những qui dịnh về các vấn dé nêu trên cũng còn chưa day du hoặc tương đối trừu tượng.
Sự cần thiết phải kịp thời nghiên cứu. làm rõ những vấn đề đó nhằm thống nhất nhận thức, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả của hoạt động chứng minh trong thực tiễn là không thể phủ nhận. Kết quả nghiên cứu đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy môn Luật tố tụng hình sự cũng như thực tiến xây dựng và áp dụng pháp luật tố tụng hình sự. PHAN NOI DUNG 2.
Những van đề lý luận về chứng cứ và quá trình chứng minh trong tố tụng hình su. Khái niệm chứng cứ Trong hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau, quan điểm về chứng cứ nhìn chung tương đối đồng nhất. Chẳng hạn, Điều 74 BLTTHS Liên bang Nga quy định chứng cứ trong vụ án hình sự như sau: "Ching cứ là bất kè những gì mà toà án, kiểm sát viên, nhân viên điều tra ban dau căn cứ vào đó để xác định có hay không có những tình tiết phải chứng minh trong quá trình tố tụng đổi với vụ án, cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vu án". Theo Luật chứng cứ của Hoa Kì, chứng cứ được định nghĩa là “nol thi?” (everything) được sử dụng trong việc chứng minh sự thật hoặc bác bỏ một vấn đề trong vụ án hoặc trong một cuộc tranh luận.
Nói một cách đơn giản, tất cả những gì có ảnh hưởng đến kết quả của vụ án đều có thể trở thành chứng cứ. việc sử dụng chúng có ý nghĩa đối với vụ án. Trong vụ án hình sự, vấn đề nào có ảnh hướng đến sự có tội hoặc vô tội của bị can,bị cáo. chúng là chứng cứ.
Theo Luật chứng cứ của Úc. chứng cứ được hiểu là những gì được dùng dé chứng minh sự tồn tại của một tình tiết thực tế nào đó trong các vụ án hình sự và đân sự. Các sự kiện, tài liệu được sử dụng làm chứng cứ phải được thu thập. kiểm tra, đánh giá thee trình tự, thủ tac và những nguyên tác nhất định theo quy định của luật chứng cứ.
Quan điểm tương tự ve chứng cứ có thể tim thấy trong hệ thong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Cụ thể, Điều 48 BLTTHS quy định: "Chứng cư là những gi có that, được thu thạp theo trình tự do Bộ luật này qui định mà cơ quan diéu tra, Viện kiểm sát và Toà án dùng làm căn cứ để vác định có hay Khong có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tôi cũng nhà những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết dung dan vụ án”. Tình trạng tương tự cũng tồn tại trong các quan điểm về phương tiện chứng minh trong hệ thống pháp luật của Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Chang hạn, theo quy định của BLTTHS Việt Nam.
phương tiện chứng minh được quy định tại khoản 2Điều 48 BLTTHS bao gồm: "a. Lời khai cua Hgười làm chứng, người bi hại, nguyên don dan sự, bị don dan su, nguot Dị tạm gitt, bi can, DỊ cáo: c. Két luận giám định: d. Biên ban về hoạt động điều tra.
vét vứ và các tài liệu khác." Trong khi đó, theo quy định của BLTTHS CHLB Nga thì chứng cứ bao gốm: lời khai của những người bị tình nghĩ. bị can: lời khai của người bị hại, người làm chứng: kết luận và lời khai của người giám định: vật chứng; biên ban hoạt động điều tra và xét xử: những tài liệu khác. Theo luật chứng cứ của Úc, chứng cứ bao gồm: lời khai của người làm chứng: chứng cứ nghe kể lại: tài liệu: vật chứng; và những dữ liệu mà toà án có thể chấp nhận là chứng cứ trong những trường hợp cụ thể. Theo quan điểm của CH Pháp, phương tiện chứng minh được xác định là sự thừa nhận (aveu): việc làm chứng; chứng cứ viết - các tài liệu giấy tờ: kết luận giám định: suy đoán và các đấu vết Như vay, trong các hệ thống pháp luật khác nhau quan điểm về bản chat của chứng cứ và phương tiện chứng minh sự tương đồng thé hiện tương đối rõ nét.
Đối tượng chứng minh và giói nạn chứng minh 2. Đóöi tượng chứng núĩnh Điều 73 BLTTHS Liên Bang Nga quy định những tình tiết can chứng minh trong ‘u án hình sự bao gồm: "Tro quá trình tố tung doi với vụ án hình xự cần Chứng nunh: 1. Sukién phạm téi(thoi gian. địa điểm, phương pháp và những tình tiet khác của vic thực hién tôi phạm).
Lõ của người thực hiện tôi phạm. hình thức lôi và dong cơ phạm! tội. Niting tình tiết về nhân than bị can. Tính chat và mức độ thiệt hạt do tôi phạm gay ra.