Chương 1. Những vấn đề lý luận về xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Pháp luật của một số quốc gia về xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng.
Định hướng và kiến nghị hoàn thiện về xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. luan an 8 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về XLCH đối với NCTN phạm tội.
Có thể chia các công trình nghiên cứu này thành các nhóm vấn đề: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về khái niệm XLCH đối với NCTN phạm tội. Vì văn bản pháp luật quốc tế có giá trị pháp lý ràng buộc không đưa ra khái niệm chính thức về XLCH đối với NCTN phạm tội nên trong khoa học pháp lý của các nước còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả nhận thấy có các định nghĩa phổ biến sau đây về XLCH: - XLCH là biện pháp thay thế cho quy trình xử phạt chính thức của Tòa án đối với người phạm tội nhằm mục đích tránh không để NCTN bị tòa án xét xử chính thức. Một số tài liệu tiêu biểu bàn về vấn đề này như các sách chuyên khảo: Kenneth Polk, Christine Adler, Damon Muller, Katherine rechtman (2003), Early Intervention: Diversion and Youth conferencing – A national profile and review of current approach to diverting juveniles from criminal justice system”, Australian Government Attorney-General’s Department; Albert R.
Roberts (Editor) (2004), Juvenile Justice Sourcebook: Past, Present, and Future, Oxford University Press; Marvin D. Krohn and Jodi Lane (2015), The Handbook of Juvenile Delinquency and Juvenile Justice, First Edition, WiLey Blackwell; Christopher J. Schreck (2017), The Encyclopedia of Juvenile Delinquency and Justice, Wiley Blackwell; hoặc các bài tạp chí: S'Lee Arthur Hinshaw II (1993), “Juvenile Diversion: An Alternative to Juvenile Court”, Journal of Dispute Resolution, Vol. Minor, and James B.
Wells (1997), “An outcome study of the Diversion Plus Program for juvenile offenders”, Federal Probation, Vol. - XLCH là một biện pháp để xóa bỏ vụ án (dismissal of the case). Quan điểm này được đề cập đến trong sách chuyên khảo: Susan Wood-Westland (2002), Nebraska juvenile pretrial diversion guidelines and resources, Lincoln, NE: Nebraska Commission on Law Enforcement and Criminal Justice; Josine Junger- Tas, Frider Dunkel (Editors) (2009), Reforming Juvenile Justice, Springer. - XLCH là biện pháp đưa NCTN phạm tội ra khỏi hệ thống tư pháp NCTN (the juvenile justice system).
Một số tài liệu tiêu biểu bàn về vấn đề này như các luan an 9 sách chuyên khảo: Bynum, J. (1996), Juvenile delinquency: A sociological approach (3rd ed.), Needham Heights, MA: Allyn & Bacon; Wood- Westland, S. (2002), Nebraska juvenile pretrial diversion guidelines and resources, Lincoln, NE: Nebraska Commission on Law Enforcement and Criminal Justice; KirK HeiLbRun, Naomi E. SeVin GoldStein and Richard E.
Redding (2005), Juvenile delinquency prevention, assessment and intervention, OXFORD University Press; Jacqueline Joudo (2008), Responding to substance abuse and offending in Indigenous communities: Review of diversion programs, Australian Institute of Criminology; Report: Juvenile Diversion Guide, Holding Youth Accountable While Reducing Juvenile Justice System Involvement In California (2018), Fight Crime: Invest in Kids, Council for a strong America; bài tạp chí: Dyah Listyarini (2017), “Juvenile Justice System Through Diversion And Restorative Justice Policy”, Diponegoro Law Review, April 2017, Volume 02, Number 01. - XLCH là biện pháp để giảm thiểu tội phạm vị thành niên bị xử lý theo hệ thống tư pháp NCTN (the juvenile justice system). Có một số tài liệu đề cập đến vấn đề này như: Marvin D. Krohn and Jodi Lane (2015), The Handbook of Juvenile Delinquency and Juvenile Justice, and Jodi Lane, WiLey Blackwell; Edwin M.
Lemert, (1981), “Diversion in Juvenile Justice: What hath been wrought”, Journal of Research in Crime and Delinquency, Vol. - XLCH là biện pháp nhằm đưa NCTN phạm tội ra khỏi hệ thống tư pháp chính thức hoặc cũng có thể là biện pháp để giảm thiểu NCTN bị xử lý theo hệ thống tư pháp NCTN (the juvenile justice system). Quan điểm này được thể hiện trong các tài liệu như: Kate TokeLey (1987), Diversion: Recent Proposals in The Juvenile Justice System, submitted for the LLB (Honours) Degree at Victoria University of Wellington; Michael Klein (2018), Juvenile Diversion Guide Holding Youth Accountable while Reducing Juvenile Justice System Involvement in California, Fight Crime: Invest in Kids, Council for a Strong America. Ngoài ra, một số tài liệu còn đặt ra vấn đề cần xem xét lại khái niệm XLCH và cho rằng XLCH có thể có nhiều cách hiểu khác nhau như bài viết Blurred lines: Reconsidering the concept of ‘diversion’ in youth justice systems in Australia đặt ra vấn đề xem xét lại khái niệm XLCH trong bối cảnh tư pháp NCTN ở Úc2 hoặc trong bài viết Diverse Diversions: Youth Justice Reform, Localized Practices, and a New Interventionist Diversion thì cho rằng có ít nhất 2 Kelly Richards (2014), “Blurred lines: Reconsidering the concept of ‘diversion’ in youth justice systems in Australia”, Youth Justice, Vol.
luan an 10 năm cách hiểu về XLCH, gồm: XLCH khỏi truy tố/tòa án; XLCH khỏi giam giữ; XLCH khỏi hệ thống tư pháp NCTN; XLCH sang các dịch vụ thay thế và XLCH khỏi tội phạm.3 Như vậy, các quan niệm về XLCH đối với NCTN phạm tội hiện nay vẫn chưa có sự thống nhất. Thông qua các khái niệm hiện có về XLCH thì vấn đề quan trọng được đặt ra là: (1) XLCH là biện pháp được áp dụng để chuyển NCTN phạm tội ra khỏi thủ tục tố tụng nào; (2) Thời điểm muộn nhất để được XLCH là khi nào. Thứ hai, các công trình nghiên cứu về các loại biện pháp XLCH. Một là, phân loại các biện pháp XLCH.
Hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về các loại biện pháp XLCH (Types of Diversion/Forms of Diversion). Tùy vào các tiêu chí khác nhau và nhằm vào các mục đích khác nhau mà có các cách phân loại khác nhau. Jacqueline Joudo cho rằng XLCH có hai hình thức chính là XLCH tiền tố tụng và XLCH trong quá trình tố tụng.4 Trong sách chuyên khảo The Encyclopedia of Corrections5 và bài viết Diversion in Juvenile Justice: What hath been wrought,6 các tác giả đã chỉ ra hai hình thức XLCH, gồm: XLCH không chính thức và XLCH chính thức. Tương tự, trong bài viết Diversion Under Malaysian Juvenile Justice System: a Case of Too Little Too Late? cũng chia XLCH thành hai hình thức là biện pháp không can thiệp và biện pháp can thiệp chính thức;7 hoặc trong bài viết Juvenile Justice System Through Diversion And Restorative Justice Policy, Dyah Listyarini lại cho rằng XLCH thường bao gồm ba hình thức là: Cảnh cáo, xử lý không chính thức và xử lý chính thức.8 Nghiên cứu về việc phân loại biện pháp XLCH sẽ làm rõ được thời điểm áp dụng XLCH cũng như xác định được mức độ can thiệp của biện pháp XLCH đối với NCTN phạm tội thông qua các nghĩa vụ mà NCTN được XLCH phải thực hiện.
Hai là, các chương trình XLCH cụ thể. Tùy theo pháp luật mỗi quốc gia mà có quy định về các chương trình XLCH khác nhau đối với NCTN phạm tội để đạt được 3 Laura Kelly and ViciArmitage (2015), “Diverse Diversions: Youth Justice Reform, Localized Practices, and a “New Interventionist Diversion”?”, Youth Justice, Vol. 4 Jacqueline Joudo (2008), Responding to substance abuse and offending in Indigenous communities: Review of diversion programs, Australian Institute of Criminology. Ray (2017), Juvenile Diversion, In: The Encyclopedia of Corrections.
Edited by Kent R. © 2017 John Wiley & Sons, Inc. Published 2017 by John Wiley & Sons, Inc. Lemert (1981), “Diversion in Juvenile Justice: What hath been wrought”, Journal of Research in Crime and Delinquency, Vol.
7 Aminuddin Mustaffa (2016), “Diversion Under Malaysian Juvenile Justice System: A Case of Too Little Too Late?”, Asian Criminology, No. 8 Dyah Listyarini (2017), “Juvenile Justice System Through Diversion and Restorative Justice Policy”, Diponegoro Law Review, April 2017, Volume 02, Number 01. luan an 11 các mục đích đặt ra. Chẳng hạn như các chương trình XLCH: Nhà tập thể (Group Homes), Ký cam kết hành vi (Behavioral Contracts), chương trình trải nghiệm nhà tù (Scared Straight Programs), lao động công ích, giáo dục, bồi thường;9 Tòa án NCTN, chương trình xử lý dân sự, các chương trình tòa án ma túy, ban quản lý khu phố (Neighborhood accountability boards), các chương trình hòa giải giữa nạn nhân và người phạm tội, các chương trình tư vấn;10 Tòa án do NCTN chủ trì; dịch vụ tư vấn gia đình; Ban hỗ trợ thanh thiếu niên; biện pháp hòa giải, ký cam kết hành vi hoặc tạm hoãn xét xử; và các chương trình TPPH.11 Ngoài ra, trong Bộ công cụ về XLCH và các biện pháp thay thế giam giữ của Unicef đã tổng hợp và đưa ra các biện pháp XLCH thường được áp dụng ở các quốc gia, gồm: (1) Không can thiệp; (2) Nhắc nhở hoặc cảnh cáo chính thức hoặc không chính thức; (3) Xin lỗi bằng văn bản hoặc trực tiếp bằng lời nói với nạn nhân; (4) Bài viết về hậu quả của hành vi phạm tội mà NCTN đã gây ra; (5) Ký cam kết hành vi; (6) Lệnh giới nghiêm; (7) Tham dự khóa học và/hoặc đào tạo kỹ năng nghề nghiệp; (8) Các công việc lao động phục vụ cộng đồng; (9) Bồi thường cho nạn nhân; (10) Chương trình giáo dục hoặc tư vấn; (11) Các chương trình tư vấn hoặc điều trị y tế; (12) Các chương trình phát triển kỹ năng sống hoặc phát triển các năng lực khác.12 Thứ ba, các công trình nghiên cứu về cơ sở của việc quy định XLCH.
- Cơ sở của việc quy định XLCH (Justifications for Diversion) đối với NCTN phạm tội là một vấn đề còn có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, tất cả các công trình nghiên cứu đều thừa nhận thuyết dán nhãn (The Labeling theory) được coi là cơ sở lý thuyết nền tảng của XLCH đối với NCTN phạm tội. Ngoài ra, tùy vào các tác giả khác nhau mà có quan điểm khác nhau. Cụ thể, Albert R.
Roberts13 và Jonathan M. Kremser14 cho rằng cơ sở lý thuyết của XLCH chỉ có thuyết dán nhãn; Deborah A. Chapin và Patricia A. Griffin cho rằng gồm thuyết dán nhãn và tính răn đe (Deterrence);15 Jacqueline Joudo cho rằng gồm lý thuyết về dán nhãn và TPPH;16 9 Robert L.
Marsh and Steven B. Patrick (2006), Chapter 25, Juvenile Diversion Programs trong sách chuyên khảo: Barbara Sims, Pamela Preston (2006), Handbook of Juvenile Justice, Theory and Practice, Taylor & Francis Group, tr. Krohn and Jodi Lane (2015), The Handbook of Juvenile Delinquency and Juvenile Justice, First Edition, WiLey Blackwell, tr. Schreck (2017), The Encyclopedia of Juvenile Delinquency and Justice, Wiley Blackwell.
12 Unicef, Toolkit on Diversion and Alternatives to Detention, https://sites.org/tdad/index_56368. Roberts (Editor) (2004), Section II.8, The Emergence and Proliferation of Juvenile Diversion Programs trong sách chuyên khảo: Albert R. Roberts (Editor) (2004), Juvenile Justice Sourcebook: Past, Present, and Future, Oxford University Press. Chapin and Patricia A.
Griffin (2005), Juvenile Diversion trong sách chuyên khảo: KirK HeiLbRun, Naomi E. SeVin GoldStein and Richard E. Redding (2005), Juvenile delinquency prevention, assessment and intervention, OXFORD University press, tr.