Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về quyền của người bào chữa 1. Khái niệm người bào chữa và quyền của người bào chữa 1. Khái niệm người bào chữa Trong một nền tư pháp dân chủ, khi mà các giá trị quyền con người được tôn vinh và là đích đến của toàn bộ hệ thống tư pháp thì hoạt động bào chữa với sứ mệnh là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội, bảo vệ công lý, công bằng xã hội được xem là một đại lượng để đánh giá uy tín và chất lượng của nền tư pháp đó.
Hoạt động bào chữa là toàn bộ những hành vi tố tụng được pháp luật TTHS quy định do người bị buộc tội và NBC thực hiện, xác định sự vô tội của người bị buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho họ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội và góp phần xác định sự thật vụ án. Xét về mặt lý luận và thực tiễn thì sự tham gia của NBC trong hoạt động TTHS là thật sự cần thiết vì sẽ giúp CQTHTT dễ dàng làm rõ sự thật của vụ án, đảm bảo khách quan và tránh oan sai. Người bị buộc tội luôn ở trong tình trạng bị động về các thủ tục tố tụng, tâm lý hoang mang, lo sợ về số phận pháp lý của mình. Họ thường là người bị hạn chế về kiến thức pháp luật, thiếu kinh nghiệm trong các hoạt động tố tụng.
Bên buộc tội gồm các CQTHTT và NTHTT là những chủ thể đặc biệt, được Pháp luật trao quyền rất lớn để tiến hành các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử theo quy định. Bản thân các chủ thể này được đào tạo bài bản, có kiến thức pháp luật vững chắc, có chuyên môn, kinh nghiệm trong xử lý tội phạm. Đa số những người bị buộc tội ít có kiến thức về pháp luật và bị áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn nhất định, bị hạn chế một số quyền, … nên tâm lý của họ luôn hoang mang, lo sợ. Vì thế sự hiện diện của NBC để giúp cho người bị buộc tội là một đòi hỏi tất yếu khách quan, tạo thế cân bằng trong TTHS.
NBC hay bào chữa viên là thuật ngữ chỉ về những người có kiến thức 5 pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng thay mặt người bị buộc tội tham gia tố tụng trong vụ án hình sự để biện hộ, bảo vệ cho thân chủ của mình để chống lại sự buộc tội, truy tố hoặc tố cáo, giúp làm giảm trách nhiệm hình sự cho thân chủ của họ đồng thời cũng có thể giúp cơ quan có chức năng làm sáng tỏ các tình tiết vụ án, họ có quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý vụ án hình sự. Theo quy định của pháp luật, NBC có thể là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, trợ giúp viên pháp lý. Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về người bào chữa. Các nhà khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội thì quan niệm “Người bào chữa là người tham gia tố tụng với trách nhiệm bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, họ được phép sử dụng mọi phương tiện do luật định để bào chữa cho bị can, bị cáo về mặt pháp lý để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.
Theo ý kiến của GS. Võ Khánh Vinh thì “Người bào chữa là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết của vụ án nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giam, bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết”. Giải thích về thuật ngữ pháp lý của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng “Người bào chữa là người được bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo mời hoặc do Viện kiểm sát, Toà án chỉ định để bào chữa và có những giúp đỡ cần thiết cho bị can, bị cáo về mặt pháp lý”. Các nhà khoa học của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh thì khái niệm người bào chữa theo Quy định của BLTTHS năm 2015 “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa”.
Từ các quan điểm về NBC của các nhà khoa học, tác giả nhận thấy có điểm chung đó là NBC chỉ là người tham gia TTHS. Thuật ngữ “tham gia” nói lên tính chất, vai trò của NBC, họ tham gia dù dưới hình thức nào (được mời hay được cử) thì vẫn nhằm mục đích chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý 6 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đồng thời góp phần bảo vệ pháp chế XHCN. NBC chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình trong hoạt động tố tụng, họ không có quyền và lợi ích liên quan trong vụ án. BLTTHS năm 2015 quy định những người tham gia tố tụng với tư cách là NBC bao gồm: Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý.
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư. Quy định này nhằm bảo đảm tính chuyên nghiệp của luật sư, phòng ngừa tình trạng những người không có đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn tham gia tố tụng như luật sư, góp phần tăng cường quản lý về hành nghề luật sư. Người đại diện của người bị buộc tội là một khái niệm tương đối mới chưa được đề cập nhiều trong khoa học pháp lý. Tuy nhiên, nếu xét ở góc độ dân sự thì người đại diện là người từ đủ 18 tuổi trở lên, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự và có đủ điều kiện làm người đại diện theo quy định tại các Điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Khác với luật sư, người đại diện chủ động thực hiện chức năng bào chữa mà không cần có đề nghị hoặc yêu cầu từ người bị buộc tội hoặc họ cũng có thể chủ động lựa chọn NBC. Bào chữa viên nhân dân: là NBC được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của mặt trận tổ quốc cử ra để bào chữa cho người bị buộc tội là thành viên của tổ chức này. Nghị quyết số 03/NQ – HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một người được coi là bào chữa viên nhân dân khi người đó được Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cử ra bào chữa cho thành viên của tổ chức mình. Mặc dù BLTTHS thừa nhận về hoạt động bào chữa của NBC là bào chữa viên nhân dân nhưng trong thực tế hầu như bào chữa viên nhân dân không tham gia tố tụng để thực hiện quyền bào chữa cho người bị buộc tội.
Kiến thức về pháp luật TTHS và kinh nghiệm của bào chữa viên nhân dân còn hạn chế nên chưa có hiệu quả trong việc bào chữa, từ đó nhận thức về NBC luôn là luật sư. 7 Trợ giúp viên pháp lý: là một trong những chủ thể tham gia tố tụng hình sự bắt đầu ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm đến khi kết thúc việc xét xử với tư cách là người bào chữa; Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự. Hoạt động của trợ giúp viên pháp lý trong TTHS mang tính đặc thù bởi đây là chủ thể đại diện để thực thi trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước đối với nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Từ những nhận định, phân tích về NBC cũng như quy định NBC theo BLTTHS năm 2015, tác giả có thể đưa ra khái niệm NBC trong TTHS như sau: Người bào chữa trong tố tụng hình sự là luật sư, người đại diện của người bị buộc tội, bào chữa viên nhân dân, hoặc trợ giúp viên pháp lý được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và giúp đỡ người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Khái niệm quyền của người bào chữa Theo từ điển Tiếng Việt, “quyền” là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận, cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Theo giải thích này có thể hiểu, “quyền” là khả năng thực hiện ý chí của cá nhân được pháp luật, xã hội hoặc lẽ phải chấp nhận. Mở rộng hơn, “quyền lợi” là điều mà pháp luật và xã hội cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành, có thể đòi hỏi nếu thiếu hoặc bị tước đoạt. Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý thì “Quyền là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế.
Dấu hiệu đặc trưng nhất của quyền là phải có sự ghi nhận về mặt pháp lý và được bảo đảm thực hiện bởi các quy định của pháp luật; thứ hai là phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với chủ thể, cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. Theo đó, quyền của cá nhân được phát sinh tăng hay giảm tuỳ theo từng thời điểm của quá trình 8 tồn tại và phát triển của xã hội …”. Dựa trên khái niệm về quyền trong khoa học pháp lý thì quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn cao. Trong TTHS quyền bào chữa thuộc về người bị buộc tội, pháp luật cho phép họ sử dụng các biện pháp hợp pháp để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Quyền bào chữa của người bị buộc tội được thực hiện dưới hai hình thức “tự bào chữa” và “nhờ người khác bào chữa”.