Luận án tiến sĩ vai trò của viện kiểm sát nhân dân về giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự việt nam 1

Luận án tiến sĩ phân tích vai trò của viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự tại Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2020

178
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vai trò của Viện Kiểm sát Nhân dân

Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết khiếu nạitố cáo tại Việt Nam. Theo quy định của pháp luật, VKSND không chỉ thực hiện chức năng công tố mà còn có trách nhiệm kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Điều này thể hiện rõ trong Bộ luật Tố tụng hình sự, nơi quy định quyền lợi của công dân và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và xử lý các khiếu nại, tố cáo. VKSND có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân, đồng thời đảm bảo tính công bằng và minh bạch trong hoạt động tư pháp. Việc thực hiện vai trò này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật và các cơ quan nhà nước.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của khiếu nại tố cáo

Khiếu nại và tố cáo là hai khái niệm quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Khiếu nại là hành vi yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét lại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính mà công dân cho rằng có sai sót. Tố cáo là hành vi thông báo về hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân hoặc tổ chức. VKSND có trách nhiệm tiếp nhận và xử lý các khiếu nại, tố cáo này, đảm bảo rằng mọi quyền lợi của công dân được bảo vệ. Đặc điểm của khiếu nại, tố cáo là tính chất công khai, minh bạch và phải được giải quyết kịp thời. Điều này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn tạo ra một môi trường pháp lý lành mạnh, nơi mà mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được phát hiện và xử lý kịp thời.

II. Thực trạng vai trò của Viện Kiểm sát Nhân dân trong giải quyết khiếu nại tố cáo

Thực trạng hiện nay cho thấy vai trò của VKSND trong việc giải quyết khiếu nạitố cáo còn nhiều hạn chế. Mặc dù VKSND đã có những nỗ lực trong việc tiếp nhận và xử lý các khiếu nại, tố cáo, nhưng vẫn còn nhiều trường hợp chưa được giải quyết kịp thời hoặc không đúng pháp luật. Theo thống kê, trong giai đoạn từ 2009 đến 2018, số lượng khiếu nại, tố cáo mà VKSND tiếp nhận và xử lý vẫn còn thấp so với thực tế. Điều này cho thấy cần có những cải cách mạnh mẽ hơn nữa trong công tác này. Việc nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của công dân mà còn góp phần nâng cao uy tín của VKSND trong mắt nhân dân.

2.1. Những yếu tố tác động đến vai trò của Viện Kiểm sát Nhân dân

Có nhiều yếu tố tác động đến vai trò của VKSND trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Một trong những yếu tố quan trọng là sự phối hợp giữa VKSND và các cơ quan nhà nước khác. Sự thiếu hụt trong việc phối hợp này có thể dẫn đến việc giải quyết khiếu nại, tố cáo không hiệu quả. Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn của cán bộ VKSND cũng ảnh hưởng đến khả năng giải quyết các vụ việc. Việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ là cần thiết để nâng cao năng lực giải quyết khiếu nại, tố cáo. Cuối cùng, sự quan tâm của lãnh đạo VKSND cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy công tác này.

III. Giải pháp nâng cao vai trò của Viện Kiểm sát Nhân dân

Để nâng cao vai trò của VKSND trong việc giải quyết khiếu nạitố cáo, cần có một số giải pháp cụ thể. Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo cho công dân. Điều này sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình và biết cách thực hiện khiếu nại, tố cáo. Thứ hai, cần cải cách quy trình tiếp nhận và xử lý khiếu nại, tố cáo để đảm bảo tính kịp thời và chính xác. Cuối cùng, cần nâng cao năng lực cho cán bộ VKSND thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu, giúp họ có đủ kiến thức và kỹ năng để xử lý các vụ việc phức tạp.

3.1. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan

Việc tăng cường công tác phối hợp giữa VKSND và các cơ quan nhà nước khác là rất cần thiết. Sự phối hợp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo mà còn tạo ra một môi trường pháp lý minh bạch và công bằng. Các cơ quan như Tòa án, Cơ quan điều tra cần có sự liên kết chặt chẽ với VKSND để đảm bảo rằng mọi khiếu nại, tố cáo đều được xem xét và xử lý một cách công bằng. Điều này sẽ giúp nâng cao niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật và các cơ quan nhà nước.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài luận án - Criminal Justice Reform in Russia, Ukraine, and the Former Republics of the Soviet Union: Trial by Jury and Mixed Courts [117], (Cải cách tư pháp hình sự ở Liên bang Nga, U-cơ-rai-na, và các nước cộng hoà thuộc Liên Xô: xét xử bởi bồi thẩm đoàn và toà án hỗn hợp) của tác giả Nikolai Kovalev, được nhà xuất bản Edwin Mellen Press ấn hành năm 2010, có độ dày 642 trang. Cuốn sách nói về tiến trình cải cách tư pháp ở Nga, U-cơ-rai-na, và những nước thuộc Liên Xô trước đây.

Những nước này đã trải qua tiến trình cải cách tư pháp từ khi Liên Xô và hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu sụp đổ. Ở các nước này, việc cải cách tư pháp là một yêu cầu tất yếu đặt ra và từng nước đã có những bước đi phù hợp. Tuy nhiên, các nước này đều có một điểm chung đó là rất đề cao vai trò của lực lượng Điều tra viên. Có thể nói, xây dựng lực lượng Điều tra viên có đủ phẩm chất, năng lực là một trọng tâm trong tiến trình xây dựng nền tư pháp ở các nước nói trên.

- The Australian Government investigation Standards package, Australian Taxation Office, The Commonwealth of Australian, 2003 (Uỷ ban tiêu chuẩn điều tra liên bang Ôx-trây-li-a (2003), Hướng dẫn của cơ quan thuế vụ Chính phủ Ôx-trây-li-a về bộ tiêu chuẩn điều tra hình sự dành cho các Điều tra viên của cơ quan này trong điều tra các vụ án hình sự theo thẩm quyền) [119].Bộ tiêu chuẩn điều tra hình sự dành cho các Điều tra viên trong điều tra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền (chủ yếu với các tội phạm liên quan đến tội phạm về thuế) phù hợp với hướng dẫn của Uỷ ban tiêu chuẩn điều tra liên bang, được ban hành theo thẩm quyền của Tổng công tố và cơ quan Cảnh sát liên bang (AFP), với sự tham gia của các cơ quan có thẩm quyền và có liên quan. Theo đó, bên cạnh các tiêu chuẩn về quy trình, thủ tục, thẩm quyền, tiêu chuẩn liên quan đến đạo đức nghề 8 luan an nghiệp, tính liêm chính cũng được xác định trong mọi hoạt động trong giai đoạn điều tra hình sự, nhất là trong khi tiến hành các hoạt động nghiệp vụ, bí mật, có tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức và các hình thức xử lý vi phạm, lạm quyền, vi phạm đạo đức nghề nghiệp hoặc xung đột lợi ích cá nhân trong quá trình Điều tra viên điều tra vụ án hình sự. Ngoài ra, các quy định về trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan hỗ trợ CQĐT trong điều tra vụ án hình sự. Klockars, Sanja Kutnjak Ivkovich, William E.

Harver, and Maria R. Haberfeld, The Measurement of Police Integrity, Office of Justice Programs, National Institute of Justice, U. Department of Justice, May 2000 (Carl B. Klockars, Sanja Kutnjak Ivkovich, William E.

Harver, và Maria R. Haberfeld, Biện pháp đo lường tính liêm chính của Cảnh sát, Viện quốc gia nghiên cứu về tư pháp, Chương trình tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, tháng 5/2000) [118] Nghiên cứu này phân tích làm rõ hiểu biết về quy định liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên Cảnh sát trong thực thi công vụ như: lạm dụng quyền lực, tham nhũng, cản trở công lý và các hình thức xử lý vi phạm pháp luật đó, bao gồm các biện pháp hình sự, hành chính, kỷ luật và trách nhiệm bồi thường dân sự. Bài viết cũng phân tích tính phù hợp, mức độ thoả đáng của hình phạt, hình thức kỷ luật, quy định về bồi thường dân sự và cơ chế báo cáo sai phạm, tố cáo, tố giác tội phạm nhằm mục đích ngăn chặn, phòng ngừa các vi phạm pháp luật của nhân viên Cảnh sát khi thi hành công vụ, trong đó có hoạt động điều tra hình sự của Điều tra viên. Jiao, Controlling Corruption and Misconduct: A Comparative Examination of Police Practices in Hong Kong and New York, Asian Criminology (2010) 5:27-44 (Allan Y.

Jiao, Kiểm soát tham nhũng và hành vi lạm quyền: nghiên cứu so sánh hoạt động của Cảnh sát Hồng Kông và New York, Tạp chí Tội phạm học châu Á, 2010, số 5) [116].Bài nghiên cứu này phân tích kinh nghiệm của lực lượng Cảnh sát Hồng Kông (lãnh thổ Trung Quốc, nhưng có quy chế và pháp luật riêng theo hệ thống luật án lệ) và Cảnh sát New York, Hoa Kỳ về chủ đề này.Theo 9 luan an nội dung nghiên cứu, cả hai lực lượng Cảnh sát đều áp dụng một số biện pháp cơ bản, theo đó là thành lập cơ quan độc lập nhằm xem xét, quyết định hành vi tham nhũng và lạm quyền của lực lượng Cảnh sát. Về phòng, chống hành vi lạm quyền của nhân viên Cảnh sát trong khi thực thi công vụ, Cảnh sát Hồng Kông có ba đơn vị độc lập có trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo với nhân viên Cảnh sát, gồm cơ quan thanh tra, CQĐT và cơ quan giải quyết khiếu nại với nhân viên Cảnh sát; Cảnh sát New York cũng có các đơn vị và chương trình tương tự, với chính sách, thủ tục và quy định pháp luật rất chặt chẽ nhằm phòng, chống lạm quyền, tham nhũng trong lực lượng Cảnh sát khi thi hành công vụ. Như vậy, có thể thấy, các cơ chế kiểm soát, đánh giá chất lượng, hiệu quả và tính liêm chính của lực lượng Cảnh sát thường được thành lập và vận hành bên trong nội bộ lực lượng Cảnh sát. Cũng có các cơ chế kiểm soát bên ngoài lực lượng Cảnh sát, thường là giám sát của cơ quan, tổ chức xã hội, của cá nhân, tổ chức có liên quan và nhất là cơ quan dân cử.

Tình hình nghiên cứu ở trong nước về khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự ở nước ngoài. Các công trình chủ yếu tập trung vào nghiên cứu, phân tích các chế định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền tố tụng trong giải quyết vụ án, qua đó có nêu quyền khiếu nại của người tham gia tố tụng đối với cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong bài viết“Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự Liên ban Nga” của tác giả Nguyễn Trọng Vĩnh [113] Theo tác giả, mô hình tố tụng hình sự (TTHS) Liên bang Nga là mô hình TTHS tranh tụng, bởi vì Bộ luật TTHS Liên bang Nga ghi nhận những nguyên tắc đặc trưng của tố tụng tranh tụng như nguyên tắc "Tranh tụng giữa các bên", nguyên tắc "Suy đoán vô tội".Về khiếu nại, Điều 19 quy định nguyên tắc bảo đảm "Quyền khiếu nại đối với các hoạt động và các quyết định tố tụng"; Điều 42 Người bị hại có quyền khiếu nại đối với hoạt động và quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên và Tòa án; Điều 47 Bị can có quyền khiếu nại đối với hoạt động và quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán được tham gia vào việc giải quyết khiếu nại của Tòa án; Điều 56 10 luan an Người làm chứng có quyền khiếu nại đối với hành vi và quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên và Tòa án; Điều 59 Người phiên dịch có quyền khiếu nại đối với hành vi và quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên, Kiểm sát viên và Tòa án; Điều 69 Người chứng kiến có quyền khiếu nại đối với hành vi và quyết định của Điều tra viên, Dự thẩm viên và Kiểm sát viên. Pháp luật TTHS Liên bang Nga chưa quy định quyền tố cáo và quyền kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Viện kiểm sát.

Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc, tác giả Hoàng Quỳnh Chi [113] đã nêu Luật tố tụng hình sự Trung Quốc được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ năm ngày 14/3/2012. Tố tụng hình sự Trung Quốc có sự kết hợp giữa mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn nhưng thiên về tranh tụng, thể hiện rõ nét ở quy định về thủ tục xét xử tại phiên tòa; trong giai đoạn xét xử, phương pháp tranh tụng được đề cập khá cụ thể khi luật TTHS quy định các thủ tục và trình tự để bên buộc tội, bên bào chữa đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, xét hỏi các nhân chứng và tranh luận bình đẳng với nhau.Điều 95 Bị can, bị cáo có quyền đề nghị thay đổi biện pháp ngăn chặn; Điều 176 Người bị hại có quyền khiếu nại quyết định không truy tố với Viện kiểm sát hoặc kiện ra Tòa án; Điều 110 Người tố giác về tội phạm có thể đề nghị xét lại đối với việc không khởi tố vụ án nếu không đồng ý; Điều 111 Người bị hại cho rằng cơ quan công an cần khởi tố điều tra vụ án nhưng không khởi tố và khiếu nại đến Viện kiểm sát nhân dân, thì Viện kiểm sát nhân dân phải yêu cầu cơ quan công an trình bày lý do không khởi tố vụ án. Nếu Viện kiểm sát nhân dân cho rằng lý do không khởi tố vụ án của cơ quan công an là không đúng thì phải thông báo để cơ quan công an để khởi tố vụ án, cơ quan công an phải khởi tố vụ án sau khi nhận được thông báo. Như vậy, pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc không quy định quyền tố cáo, nhưng lại quy định người bị hại có quyền lựa chọn khiếu nại đến Viện kiểm sát hoặc khởi kiện ra Tòa án đối với quyết định không truy tố của Viện kiểm sát.

Nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp tác giả Mai Thanh Hiếu [113] đã chỉ ra Cộng hòa Pháp theo mô hình tố tụng hình sự hỗn hợp. Giai 11 luan an đoạn điều tra thiên về mô hình tố tụng thẩm vấn. Giai đoạn xét xử thiên về mô hình tố tụng tranh tụng. Bộ luật tố tụng hình sự Cộng hòa pháp quy định 3 nhóm nguyên tắc: (1) nguyên tắc chung của tố tụng hình sự: công minh, tranh tụng, công bằng giữa các bên, phân quyền giữa công tố và xét xử; (2) nguyên tắc bảo đảm quyền của người bị hại; (3) nguyên tắc bảo đảm quyền của người bị truy cứu trách nhiệm hình sự: suy đoán vô tội, bảo đảm quyền bào chữa, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế, quyền được xét xử trong thời hạn hợp lý.

Điều 113-1 người bị hại khiếu nại việc xử lý của chủ thể tố tụng đối với người liên quan trong điều tra (Nhân chứng được trợ giúp) nhưng chưa đủ căn cứ để khởi tố đối với họ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu vai trò của Viện Kiểm sát Nhân dân trong việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong tố tụng hình sự tại Việt Nam" của tác giả Đinh Văn Sơn, dưới sự hướng dẫn của Trần Ngọc Hương và Nguyễn Minh Đức, tập trung vào vai trò quan trọng của Viện Kiểm sát Nhân dân trong việc xử lý các khiếu nại và tố cáo trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ chức năng của Viện Kiểm sát trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý phức tạp. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về quy trình và thực tiễn giải quyết khiếu nại, từ đó có thể hiểu rõ hơn về hệ thống pháp luật hình sự tại Việt Nam.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến vai trò của Viện Kiểm sát, bạn có thể tham khảo thêm bài viết "Vai trò của Viện kiểm sát trong quyền lực nhà nước ở Việt Nam", nơi phân tích sâu hơn về quyền lực và trách nhiệm của Viện Kiểm sát trong hệ thống pháp luật. Ngoài ra, bài viết "Vai trò của Viện Kiểm sát Nhân dân trong bảo đảm quyền khiếu nại của bị cáo trong tố tụng hình sự tại Hà Nội" cũng sẽ cung cấp cái nhìn cụ thể về việc bảo vệ quyền lợi của bị cáo trong quá trình tố tụng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về vai trò của Viện Kiểm sát trong hệ thống pháp luật Việt Nam.