mở đầu của quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Căn cứ KTVAHS được BLTTHS quy định chặt chẽ, có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ chung của BLTTHS, đó là “bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội; góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa,…. BLTTHS quy định nguyên tắc tiếp nhận tin báo, tố giác về tội phạm của cơ quan, tổ chức tại Điều 145. Cơ quan, tổ chức nhận được tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có trách nhiệm phải tiếp nhận các tin báo, tố giác, kiến nghị này.
BLTTHS năm 2015 quy định rõ ràng việc cấm các cơ quan, tổ chức từ chối tiếp nhận tin báo, tố giác và kiến nghị khởi tố.Thẩm quyền giải quyết, tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc về CQĐT, VKS và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Các cơ quan, tổ chức khác không có thẩm quyền này. VKS giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều 15 n tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục [28, tr. Điều 146 BLTTHS năm 2015 quy định thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố [28, tr.135] rất chặt chẽ.
Bởi lẽ, tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh về vụ việc, xem xét có hay không có dấu hiệu của tội phạm. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố tới CQĐT, VKS, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác. Khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trực tiếp từ cơ quan, tổ chức, cá nhân thì cơ quan có thẩm quyền phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận [28, tr. Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận [28, tr.
Trường hợp VKS giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc phát hiện có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà VKS đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày VKS có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho VKS để xem xét, giải quyết [28, tr. Điều luật quy định trách nhiệm chuyển tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố nhằm đảm bảo việc giải quyết được đúng đắn, nhanh chóng, kịp thời và tránh chồng chéo về thẩm quyền. Bên cạnh việc KTVAHS, Điều 157 BLTTHS năm 2015 quy định cụ thể các 16 n căn cứ không KTVAHS. Việc KTVAHS có ý nghĩa quan trọng, đánh dấu một vụ việc có dấu hiệu của tội phạm và có được đưa vào quy trình giải quyết của tố tụng hình sự hay không? Thực tế cho thấy, ở thời điểm ban đầu, khi thông tin, tài liệu còn ít, việc xác định dấu hiệu tội phạm để quyết định việc khởi tố không đơn giản.
Đặc biệt, đối với những vụ án cần tri thức khoa học trong những lĩnh vực khác như xác định nguyên nhân chết, xác định chất lượng công trình xây dựng. KTVAHS không có căn cứ có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức. Ngược lại, không KTVAHS có thể dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Điều luật quy định rõ ràng các căn cứ không KTVAHS nhằm tránh việc tùy tiện trong giải quyết vụ việc.
Không được KTVAHS, khi có một trong các căn cứ sau: 1. Không có sự việc phạm tội; 2. Hành vi không cấu thành tội phạm; 3.Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; 4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; 5.
Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; 6. Tội phạm được đại xá; 7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; 8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố [28, tr.
Tố tụng hình sự nhằm xác định và giải quyết đúng đắn tội phạm và người phạm tội. Một người phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi tội phạm đã thực hiện. Do đó, nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trình tự tố tụng đối với vụ án đó cũng chấm dứt. Cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định không KTVAHS trong trường hợp này, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.
Tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố [28, tr. Đây là căn cứ mới được bổ sung trong BLTTHS năm 2015. Trong những vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại, nếu bị hại không có yêu cầu khởi tố thì cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định không KTVAHS. 17 n Điều 156 BLTTHS năm 2015 quy định việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định KTVAHS.
Theo đó, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, VKS ra quyết định thay đổi quyết định KTVAHS khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra; ra quyết định bổ sung quyết định KTVAHS khi có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố và trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải gửi quyết định kèm theo các tài liệu liên quan đến việc thay đổi hoặc bổ sung quyết định KTVAHS cho VKS cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để kiểm sát việc khởi tố. Theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015, khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm thì CQĐT ra Quyết định KTBC [28, tr. KTBC là hành vi tố tụng có ý nghĩa quan trọng, theo đó cơ quan có thẩm quyền, thường là CQĐT, sau khi tiến hành một số hoạt động điều tra đã có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi phạm tội. Quyết định KTBC là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra tiếp theo hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như hỏi cung bị can, tạm giam bị can để điều tra.
Trường hợp VKS hủy bỏ quyết định KTBC của CQĐT thì phải nêu rõ lí do. CQĐT có quyền kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp theo quy định tại khoản 2 điều 167 BLTTHS. Trường hợp VKS yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được chứng cứ, tài liệu bổ sung, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định hủy bỏ quyết định KTBC [28, tr. VKS cũng có quyền quyết định KTBC trong trường hợp sau khi nhận hồ sơ và kết luận điểu tra, VKS phát hiện có người khác đã thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm trong vụ án chưa bị khởi tố.
Đồng thời với việc KTBC trong trường hợp này, VKS trả hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung. 18 n Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định KTBC hoặc quyết định KTBC của VKS, CQĐT phải giao ngay quyết định KTBC, quyết định phê chuẩn quyết định KTBC và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can theo quy định tại Điều 60 BLTTHS. Sau khi nhận được quyết định phê chuẩn quyết định KTBC, CQĐT phải chụp ảnh, lập danh bản, chỉ bản của người bị khởi tố và đưa vào hồ sơ vụ án. Điều 8, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP, ngày 19/10/2018 về phối hợp giữa CQĐT và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 04) hướng dẫn trong trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố VAHS và tại Điều 9 hướng dẫn trong trường KTBC, thay đổi hoặc bổ sung quyết định KTBC.
Quyền đề ra yêu cầu điều tra và trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định; quyền yêu cầu thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật Hỏi cung bị can là hoạt động điều tra theo tố tụng do BLTTHS quy định. Do đó, về thời gian, việc hỏi cung bị can do ĐTV tiến hành ngay sau khi có quyết định KTBC [28, tr. Như vậy, theo Điều 183 BLTTHS, ĐTV được quyền hỏi cung bị can trước khi có quyết định phê chuẩn quyết định KTBC của VKS. Đây là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học tố tụng hình sự.
BLTTHS năm 2015 quy định trước khi hỏi cung bị can, ĐTV phải thông báo cho KSV và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, KSV tham gia việc hỏi cung bị can [28, tr. Quy định này, một mặt vừa đảm bảo hoạt động hỏi cung bị can được kiểm sát chặt chẽ bởi VKS. Mặt khác bảo đảm quyền bào chữa của bị can.