Chương 1 BPNC là những biện pháp cưỡng chế TTHS do cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật áp dụng đối với người bị buộc tội, khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án. Trải qua hơn 30 năm thi hành các bộ luật tố tụng hình sự áp dụng các quy phạm pháp luật về bắt người, tạm giữ, tạm giam .Pháp luật tố tụng hình sự ngày càng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta. Ngày 01/01/2018 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 chính thức có hiệu lực mở ra một trang mới trong việc thực thi pháp luật tố tụng cũng như áp dụng các biện pháp ngăn chặn đã được thay đổi,đảm bảo tốt hơn mục đích TTHS, phù hợp với thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ở Việt Nam. 13 CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 2.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về áp dụng các biện pháp ngăn chặn 2. Biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là tiến hành giữ người khi có đủ căn cứ, cơ sở để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, hoặc sau khi thực hiện tội phạm người đó bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Theo quy định tại khoản 1, Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015 thì khi thuộc một trong các trường hợp sau đây thì được giữ người trong trường hợp khẩn cấp: Trường hợp 1: Có đủ căn cứ để xác định người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Trong trường hợp này, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có đủ thông tin, tài liệu để xác định một người cụ thể đang chuần bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng về một trong các tội phạm được quy định tại các điều 108, 109, 110, 111, 112, 113, 114, 115, 116, 117, 118, 119, 120, 121, 123, 134, 168, 169, 207, 299, 300, 301, 302, 303 và 324 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Ngoài những tội danh nêu trên thì không được tạm giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ có thể giữ người trong trường hợp khẩn cấp khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm quy định tại điều 123 và Điều 168 của Bộ luật hình sự 2015. Trường hợp 2: Đồng phạm, người bị hại, người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy, xác nhận đúng là người đã thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình; 14 Để giữ người trong trường hợp này cần phải có đủ hai điều kiện: - Thứ nhất: Người cùng thực hiện tội phạm hoặc bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm. Chính mắt nhìn thấy được hiểu là họ trực tiếp chứng kiến sự việc phạm tội xảy ra chứ không phải do nghe người khác kể lại, thuật lại.
Xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm là sự khẳng định một người cụ thể nào đó đã thực hiện tội phạm thông qua những dấu hiệu nhận biết nào đó chứ không phải là sự phỏng đoán hay nghi vấn. - Thứ hai: Cần tiến hành ngăn chặn ngay việc người đó trốn nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có căn cứ cho rằng nếu không bắt giữ họ thì có thể họ sẽ bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, khám phá vụ án. Việc nhận định một người có khả năng bỏ trốn hay không bỏ trốn.
Cơ quan chức năng có thẩm quyền căn cứ vào hành vi của người đó, căn cứ vào nhân thân, lai lịch, hành vi phạm tội và điều kiện thực tế của người đó. Trường hợp 3: “Có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc nơi làm việc hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ” [83]. Dấu vết tội phạm là những phản ánh vật chất có liên quan đến tội phạm tồn tại trên vật mang vết như: Dấu vết máu trên quần áo, dấu vết trầy xước trên phương tiện giao thông. Khi phát hiện có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở hoặc trên phương tiện của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành giữ người bị nghi thực hiện tội phạm đó trong trường hợp khẩn cấp.
Chú ý: Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì ngoài các căn cứ trên đây chỉ có thể áp dụng biện pháp này đối với họ về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ 15 luật hình sự. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị giữ trong trường hợp khẩn cấp về tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng (Điều 419 Bộ luật TTHS năm 2015). Những người có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp được quy định tại Khoản 2, Điều 110 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. * Trình tự, thủ tục: Khi tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải có lệnh của cơ quan điều tra và lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp phải có sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát cùng cấp.
Còn công tác tiến hành bắt, công cụ, phương tiện,. do cơ quan điều tra thực hiện theo đúng quy trình, quy định của pháp luật. Người thi hành lệnh phải đọc lệnh, giải thích lệnh, giải thích quyền và nghĩa vụ của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và lập biên bản về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp; giao lệnh cho người bị giữ. Tại Điểm 4, Điều 110, BLTTHS năm 2015 quy định thời gian giữ người trong trường hợp khẩn cấp như sau: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2, Điều 110 Bộ luật TTHS năm 2015 phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả tự do ngay cho người đó.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo tài liệu liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn” [37]. Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cũng quy định rõ khi tiếp nhận, bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì những người có thẩm quyền phải giải ngay người bị bắt kèm theo tài liệu, chứng cứ có liên quan đến sân bay, bến xe, bến cảng. đi chuyến đầu tiên trở về cơ quan có thẩm quyền. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi tiếp nhận người bị giữ, Cơ quan điều tra phải tiến hành lấy ngay lời khai báo cáo Thủ trưởng hoặc Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra đó phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc trả tự do ngay cho 16 người đó nếu không có chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của người đó.
Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp kèm theo tất cả tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giữ người để xét phê chuẩn lệnh bắt. Trong vòng 12 giờ khi nhận hồ sơ đề nghị xét phê chuẩn về bắt giữ trong trường hợp khẩn cấp thì VKS phải ra ngay quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn để cơ quan điều tra tiến hành thực hiện. Theo điểm 5, Điều 110 BLTTHS năm 2015 thì Hồ sơ đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp gồm: - “Văn bản đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”; “Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quyết định tạm giữ”; “Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp”; “Biên bản ghi lời khai của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”; “Chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp” [37]. - Thông báo về việc giữ người, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp.
Sau khi giữ người, bắt người, người ra lệnh giữ người, quyết định bắt người phải thông báo ngay cho những người liên quan theo quy định của luật biết. Tuy nhiên, trong một số trường hợp việc thông báo có thể gây cản trở truy bắt đối tượng khác hoặc cản trở điều tra thì sau khi những cản trở đó không còn, người ra lệnh giữ người, lệnh hoặc quyết định bắt người, Cơ quan điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt phải thông báo ngay cho cho gia đình người bị giữ, bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc, học tập biết. Biện pháp bắt Bắt là biện pháp ngăn chặn được cơ quan chức năng có thẩm quyền áp dụng đối với người bị buộc tội, người đang bị truy nã, người bị yêu cầu dẫn độ nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người phạm tội trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.