Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN SỬA BẢN ÁN SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN PHÚC THẨM 1. Khái niệm quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án phúc thẩm Trong hệ thống pháp luật của nước ta, nguyên tắc “hai cấp xét xử” đã được đề cập đến ngay trong những văn bản pháp luật đầu tiên là sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946, và sau đó lần đầu tiên được chính thức ghi nhận tại Luật tổ chức TAND năm 1960. Phúc thẩm vụ án hình sự là cấp xét xử thứ hai đối với vụ án hình sự, có nhiệm vụ trực tiếp xét xử lại hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Phúc thẩm có vai trò rất quan trọng, một mặt đây là giai đoạn kiểm tra tính hợp pháp của bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật để phát hiện sai sót và kịp thời sửa chữa, mặt khác thông qua việc xem xét lại để kịp thời bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Nhờ có thủ tục phúc thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm buộc phải thận trọng và tuân thủ nghiêm các quy định về tính hợp pháp và có căn cứ pháp luật khi ra bản án hoặc quyết định về vụ án. Tòa án cấp có thẩm quyền xét xử phúc thẩm vụ án hình sự của nước ta là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án đã xét xử sơ thẩm, bao gồm: TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa phúc thẩm TANDTC, Tòa án quân sự cấp quân khu và Tòa án quân sự trung ương. Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành, Tòa án cấp phúc thẩm có những quyền hạn nhất định. Quyền ở đây được hiểu là thẩm quyền, là cái mà luật pháp cho phép đối với một tổ chức hoặc cá nhân.
Để hiểu khái niệm về Quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc 7 z thẩm, trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là thẩm quyền của của Tòa án cấp phúc thẩm. Theo từ điển luật học thì thẩm quyền của Tòa án là “quyền xem xét để kết luận và định đoạn một vấn đề pháp luật” [27, tr. Như vậy, thẩm quyền của Tòa án nói chung và thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm nói riêng phải bao gồm 2 yếu tố cần và đủ là “xem xét” và “kết luận, định đoạt” (quyết định). Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, Tòa án chỉ có thể kết luận và định đoạt sau khi đã tiến hành xem xét, và sau khi xem xét phải đưa ra được kết luận và định đoạt thì việc xem xét mới có ý nghĩa.
Tiến sĩ Nguyễn Đức Mai đưa ra khái niệm về thẩm quyền của Tòa án cấp phúc thẩm là “toàn bộ các quyền hạn mà pháp luật dành cho Tòa án cấp trên trực tiếp trong việc xem xét và quyết định các vấn đề cụ thể về các vụ án hình sự do các Tòa án cấp dưới xét xử sơ thẩm, mà bản án (quyết định) chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị”. Theo chúng tôi đây là một khái niệm tương đối đầy đủ và hoàn chỉnh. Khi sửa bản án sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đã làm cho một phần hoặc toàn bộ nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm trở nên khác với ban đầu, hay nói cách khác là làm thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung và quyết định của bản án sơ thẩm. Như vậy có thể rút ra khái niệm: Quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm là quyền mà pháp luật dành cho Tòa án cấp trên trực tiếp trong việc xem xét quyết định các vấn đề cụ thể nhằm làm thay đổi một phần hoặc toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án cấp dưới chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
BLTTHS năm 2003 quy định về quyền sửa bản án sơ thẩm như sau: 1. Tòa án cấp phúc thẩm có quyền sửa bản án sơ thẩm như sau: a) Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; b) Áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn; c) Giảm hình phạt cho bị cáo; 8 z d) Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng; đ) Chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo. Nếu có căn cứ, Tòa án cấp phúc thẩm có thể giảm hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo cho cả những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại, nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát hoặc kháng cáo của người bị hại, nguyên đơn dân sự; nếu có căn cứ, Tòa án vẫn có thể giảm hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn, chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo, giảm mức bồi thường thiệt hại [24, Điều 249].
Qua nghiên cứu quy định trên cho thấy quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm có một số đặc điểm như sau: Thứ nhất, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được quyền sửa các nội dung của bản án sơ thẩm có sai sót liên quan đến trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, hình phạt, điều luật áp dụng đối với bị cáo, xử lý vật chứng, không sửa các sai sót liên quan đến thủ tục tiến hành tố tụng. Điều này xuất phát từ lý do các sai sót về thủ tục tố tụng là sai sót ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền, lợi ích chính đáng của đương sự và bị cáo, làm cho quá trình xác định sự thật của vụ án không khách quan toàn diện và đầy đủ. Sai sót về thủ tục tố 9 z tụng là những gì đã xảy ra không thể lặp lại được nên không thể sửa lại được. Nếu không sai lầm vi phạm nghiêm trọng thì chỉ rút kinh nghiệm, rút ra bài học, nếu là sai lầm, vi phạm nghiêm trọng thì chỉ có thể hủy bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại.
Thứ hai, phạm vi quyền sửa bản án sơ thẩm của Tòa án cấp phúc thẩm được quy định theo hướng mở rộng quyền sửa bản án theo hướng có lợi cho bị cáo, hạn chế quyền sửa bản án theo hướng bất lợi hơn cho bị cáo. Hầu như tất cả các vấn đề liên quan tới trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo Tòa án cấp phúc thẩm đều có thể xem xét và sửa theo hướng có lợi cho bị cáo. Điều kiện để Tòa án phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng này được quy định khá mở rộng nhưng cũng không quá lỏng lẻo để tránh việc biến cấp phúc thẩm trở thành cấp sơ thẩm thứ hai. Ngoài yêu cầu chung là có kháng cáo kháng nghị (kể cả kháng cáo, kháng nghị theo hướng không có lợi cho bị cáo) thì không có bất kì một hạn chế nào khác trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa phúc thẩm.
Ngoại trừ trường hợp miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt và trường hợp giảm mức bồi thường thiệt hại, các trường hợp khác Tòa án phúc thẩm đều xem xét và áp dụng đối với cả bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo kháng nghị. Điều 241 BLTTHS quy định nguyên tắc, “Toà án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị”, tuy nhiên “nếu xét thấy cần thiết thì toà án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án”. Điều 241 BLTTHS không quy định thế nào là trường hợp “cần thiết” và hiện nay cũng chỉ có Thông tư liên ngành số 01- TANDTC-VKSNDTC/TTLN ngày 08/12/1988 của TANDTC và VKSNDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong BLTTHS giải thích “trường hợp cần thiết là trường hợp ở phần không bị kháng cáo hoặc kháng nghị có điểm cần được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo”. Một điểm nữa là Tòa án 10 z có thể xem xét sửa bản án sơ thẩm có lợi cho cả bị cáo bị kháng cáo, kháng nghị theo hướng tăng nặng.
Đối với việc sửa bản án theo hướng không có lợi cho bị cáo, Khoản 3 Điều 249 BLTTHS 2003 quy định rất rõ ràng về giới hạn Tòa án phúc thẩm chỉ được sửa tăng nặng ba vấn đề, đó là: Tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn và tăng mức bồi thường thiệt hại. Điều kiện để được sửa theo hướng này cũng bị ràng buộc với nhiều yêu cầu chặt chẽ hơn như: Nội dung kháng cáo, kháng nghị phải có yêu cầu Tòa án xem xét tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn hoặc tăng mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo; Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát không được thay đổi nội dung kháng cáo kháng nghị làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; Mặt khác nếu người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo kháng nghị vắng mặt tại phiên tòa có lý do chính đáng thì Tòa án có thể vẫn tiến hành xét xử nhưng không được ra bản án hoặc quyết định không có lợi cho bị cáo hoặc đương sự vắng mặt. Đặc biệt, Tòa án phúc thẩm không xem xét tăng nặng đối với bị cáo không có kháng cáo hoặc không bị kháng cáo kháng nghị. Quy định trên buộc người kháng cáo hoặc Viện kiểm sát phải thận trọng trong việc kháng cáo hoặc kháng nghị, buộc Tòa án cấp phúc thẩm phải thận trọng trong việc quyết định sửa án sơ thẩm theo hướng bất lợi.
Thứ ba, Tòa án cấp phúc thẩm không sửa bản án sơ thẩm từ tuyên bố bị cáo không có tội thành có tội. Xuất phát từ nguyên tắc chung là “bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”, việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo không có tội thành có tội sẽ làm mất đi quyền bào chữa và quyền kháng cáo của bị cáo đối với tội danh mới bị tuyên trong bản án phúc thẩm.