phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt thì nội dung luận văn được chia thành ba chương với kết cấu như sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Chƣơng 2: Quy định của pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Tây Ninh. Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị về bảo đảm pháp lý việc thực hiện quyền bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. 4 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.
Khái quát chung về bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự 1. Khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Quyền bào chữa của người bị buộc tội là một trong những quyền con người trong lĩnh vực tư pháp được pháp luật quốc tế tôn trọng, ghi nhận và bảo vệ. Một trong những văn bản pháp luật quốc tế điển hình có ghi nhận quyền bào chữa là Công ước về quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23/3/1976; Việt Nam đã tham gia Công ước này ngày 24/9/1982 và có trách nhiệm thực thi những cam kết quốc tế trong công ước. Ở Việt Nam, trong quá trình xây dựng pháp luật, nhà nước ta luôn coi trọng các quyền con người, xem đó là một trong những nguyên tắc cơ bản để xây dựng hoàn hiện pháp luật.
Tuy nhiên, nguyên tắc này chưa được ghi nhận trực tiếp trong các bản Hiến pháp năm 1946, năm 1959 và năm 1980. Đến Hiến pháp 1992, thì lần đầu tiên chế định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận tại Điều 50; đỉnh cao là bản Hiến pháp 2013 quy định đầy đủ về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong một đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của nhà nước. Quyền là một khái niệm dùng để chỉ những điều mà "pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân, tổ chức được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế” [32, tr. Theo nghĩa phổ thông trong từ điển tiếng Việt: Thì bào chữa là việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo [33, tr.
Quyền bào chữa là một hoạt động tố tụng cực kỳ quan trọng, vì thông qua hoạt động bào chữa thì quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội mới được đảm bảo. Do chưa có một khái niệm cụ thể nào về vấn đề này được cụ thể hóa trong luật, cho nên hiện nay khái niệm về quyền bào chữa chưa được thống nhất, vì vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau: 5 Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Quyền bào chữa là một dạng hoạt động tố tụng bằng cách dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho một đương sự nào đó thuộc một vụ án hình sự hay dân sự trước Toà án hoặc cho một việc nào đó đang bị lên án” [31, tr. Với quan điểm này, quyền bào chữa không chỉ xuất hiện trong lĩnh vực hình sự mà còn xuất hiện trong lĩnh vực dân sự. Vì dân sự là sự tranh chấp giữa các cá nhân với nhau hoặc giữa cá nhân với tổ chức hoặc giữa tổ chức với tổ chức, nó phù hợp với ý nghĩa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hơn là phù hợp với ý nghĩa bào chữa.
Khái niệm này theo chúng tôi là quá rộng, không phân biệt được ranh giới giữa bào chữa và bảo vệ quyền và lợi ích của các đương sự trong các lĩnh vực không phải hình sự. Quan điểm thứ hai cho rằng: “Quyền bào chữa là hoạt động của người bào chữa nhằm xác định những tình tiết minh oan hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị can, bị cáo” [21, tr. Theo quan điểm này thì quyền bào chữa chỉ là hoạt động của người bào chữa nhằm mục đích minh oan hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị can, bị cáo. Còn hoạt động của chính của bản thân bị can, bị cáo tự bào chữa cho mình thì không phải là hoạt động bào chữa.
Quan điểm này chưa đầy đủ; vì người bị buộc tội mới là chủ thể đích thực của quyền bào chữa, họ mới chính là người có thể sẽ bị xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp. Cũng theo quan điểm này, hoạt động bào chữa chỉ được áp dụng cho bị can, bị cáo, còn người bị bắt và người bị tạm giữ không thuộc đối tượng được phép bào chữa. Trong khi đó, theo Hiến pháp năm 2013 quy định thì: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” [17, Đ. Đồng thời, BLTTHS 2015 quy định CQTHTT, người có thẩm quyền THTT có nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật này [16, Đ.
Như vậy, với quan điểm trên, thì hoạt động bào chữa là quá hẹp, chưa thể hiện hết nội dung của quyền bào chữa. Quan điểm thứ ba cho rằng quyền bào chữa là:“Người bị buộc tội thực hiện hành vi phạm tội nào đó được luật thừa nhận khả năng bào chữa, chống lại sự buộc tội, bác bỏ nó bằng cách đưa ra các chứng cứ và lập luận nhằm làm giảm nhẹ TNHS của mình. Trong quá trình điều tra và xét xử vụ án cần làm sáng tỏ không chỉ 6 những gì khẳng định sự buộc tội mà còn những gì có lợi cho bị cáo” [14]. Với quan điểm này thì nội dung, phạm vi, chủ thể thực hiện quyền bào chữa đã tương đối đầy đủ.
Người bị buộc tội có thể tự mình bào chữa trên cơ sở các chứng cứ và lập luận của mình để chống lại sự buộc tội, bác bỏ việc bị buộc tội nhằm minh oan hoặc làm giảm nhẹ TNHS của mình. Đồng thời, cơ quan có thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án ngoài chứng cứ buộc tội cũng phải có nghĩa vụ tìm những chúng cứ gỡ tội để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS cho người bị buộc tội. Tuy nhiên, theo quan điểm này thì pháp luật chỉ thừa nhận khả năng bào chữa của người bị buộc tội, không thừa nhận người bị buộc tội được quyền nhờ người khác bào chữa.TS Phạm Hồng Hải khi cho rằng:“Trong TTHS, quyền bào chữa chỉ xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội” [8]. Bản chất của bào chữa là việc bảo vệ người bị buộc tội khỏi sự buộc tội, kết tội một cách oan sai của các cơ quan có thẩm quyền TTHS bằng cách đưa ra những lý lẽ, chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS.
Đồng thời, PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn cho rằng:“Quyền bào chữa là tất cả các quyền mà pháp luật quy định để chống lại sự buộc tội …” [28, tr. Mặc dù còn có nhiều quan điểm khác nhau về quyền bào chữa nhưng nhìn chung các quan điểm này điều xác định chủ thể, phạm vi, cách thức và nội dung của quyền bào chữa. Theo chúng tôi, quyền bào chữa có thể được hiểu là: Là quyền năng tố tụng đặc biệt mà pháp luật TTHS trao cho người bị buộc tội để tự mình hoặc nhờ người khác đưa ra chứng cứ, lập luận chống lại sự buộc tội và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình. Từ những nội dung trên có thể thấy quyền bào chữa có những đặc điểm sau: - Quyền bào chữa là quyền hiến định được ghi nhận trong Hiến pháp, có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt so với các quyền khác.
- Là quyền đặc thù của người bị buộc tội; nó chỉ phát sinh đối với chủ thể từ khi có sự buộc tội và người bị buộc tội tự thực hiện hoặc nhờ người khác thực hiện. - Đây là quyền chống lại sự buộc tội thiếu căn cứ và bảo vệ lợi ích của người 7 bị buộc tội. Có thể khẳng định rằng, quyền bào chữa là một thành tố của chức năng gỡ tội; theo PGS.TS Lê Hồng Hải, thì quyền bào chữa trong TTHS là: “Tổng hòa các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự [8, tr. Ông Christopher Maxwell (công tố viên cao cấp bang New South Wales Australia) cho rằng: “Một xã hội lành mạnh đòi hỏi phải quản lý các công dân bằng hệ thống pháp luật - một hệ thống cần phải đạt được sự cân bằng giữa các quyền của những người bị buộc tội và quyền của các cộng đồng trông chờ những người đó phải chịu trách nhiệm về hành vi của họ” [12].
Nhìn từ góc độ lý luận, chức năng gỡ tội tồn tại song song với chức năng buộc tội như là nhu cầu tất yếu khách quan của TTHS. Khi chưa xác định ai là người bị tình nghi thực hiện tội phạm hoặc chưa bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì TTHS chưa xuất hiện chức năng bào chữa. Trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của nhóm tác giả Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã nhận định:“TTHS không được thừa nhận là dân chủ khi chức năng buộc tội không có đối trọng của nó là chức năng bào chữa” và “tranh tụng chính là sự xác định mối quan hệ giữa chức năng buộc tội và chức năng bào chữa như là sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập”. Sự đấu tranh nhằm phủ định giữa hai chức năng này chính là “động lực làm cho hoạt động TTHS vận động và phát triển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác làm thay đổi bản chất của vụ án hình sự, từ chưa xác định được sự thật khách quan của vụ án đến sự thật đó được làm sáng tỏ” [15].
Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề cơ chế và điều kiện bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động TTHS nói riêng, cùng với nó là giải quyết những vướng mắc trong tổng thể vận hành chung của cả hệ thống tư pháp, giữa các chủ thể THTT và người tham gia tố tụng chưa được quan tâm đúng 8 mức.