CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ BẮT NGƯỜI VÀ QUY ĐỊNH THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Lý luận về biện pháp bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm biện pháp bắt người Để làm rõ nội dung pháp lý của biện pháp bắt người trong TTHS chúng ta cần phải làm rõ một số khái niệm có liên quan như: Biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong TTHS. Thứ nhất, về biện pháp ngăn chặn: Các BPNC trong TTHS được quy định tại Điều 109, BLTTHS năm 2015 như sau: “1.
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền THTT trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ. Thứ hai, biện pháp cưỡng chế: Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2010: “Cưỡng chế là bắt phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực” [50, tr. Căn cứ vào loại VPPL khác nhau, cưỡng chế cũng có được chia thành các loại khác nhau, như: cưỡng chế dân sự, cưỡng chế hành chính, cưỡng chế hình sự và cưỡng chế TTHS.
Các biện pháp cưỡng chế trong TTHS được quy định tại Điều 126 - BLTTHS năm 2015 như sau: “Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền THTT có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản” [35, tr. Như vậy, có thể khẳng định rằng biện pháp bắt người là BPNC mang tính cưỡng chế trong TTHS, là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu đời và được mọi người sử dụng thường xuyên trong đời sống xã hội. 8 Theo Đại từ điển Tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học biên soạn năm 2010 thì: “Bắt là một động từ diễn tả sự nắm lại, giữ lại một người hay một sinh vật nào đó không để cho tự do hoạt động hoặc cử động” [50, tr. Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Như Ý xuất bản năm 1998 thì “Bắt là nắm lại, giữ lại, không để cho tự do hoạt động hoặc cử động” [53, tr.
Như vậy, bắt được bắt đầu khi chủ thể thực hiện hành động nắm, giữ và kết thúc khi hành động nắm giữ đó chấm dứt. Bắt ở đây được hiểu theo nghĩa rộng. Khi tiếp cận bắt với tư cách là một BPNC trong TTHS, do chưa có định nghĩa pháp lý về biện pháp bắt người, cho nên đã có nhiều quan điểm khác nhau, đáng chú ý là một số quan điểm sau: ThS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng: “Bắt người là BPNC có tính cưỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bắt người nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục rất chặt chẽ mà pháp luật quy định” [24, tr.
Theo quan niệm của ThS. Nguyễn Hồng Ly: “Bắt người là giữ người phạm pháp, không cho tiếp tục tự do hoạt động, chặn đứng hành động phạm tội đề phòng người đó lẩn trốn, tự sát, tiêu hủy chứng cứ hoặc gây trở ngại cho việc điều tra. Bắt người là một trong những biện pháp cưỡng chế cần thiết nhất của Nhà nước để trấn áp, ngăn chặn những hành động phạm tội… Bắt người là một trong những BPNC do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật” [27, tr. Theo Từ điển Bách khoa CAND của Nxb.
CAND xuất bản năm 2005: “Bắt người phạm tội là một BPNC trong TTHS, được tiến hành theo quy định của pháp luật và theo lệnh của CQĐT, VKS, Tòa án nhằm chặn đứng hành vi phạm tội và không gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như việc đảm bảo thi hành luật” [4, tr. Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm: “Bắt nguời là BPNC trong TTHS được áp dụng đối với bị can, bị cáo, nguời đang bị truy nã và trong truờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với nguời chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, 9 ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Còn theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trung tâm Đào tạo từ xa Đại học Mở Hà Nội thì: “Bắt người là BPNC trong TTHS do CQĐT, VKS, Tòa án áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc người phạm tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được thuận lợi và đúng pháp luật” [46, tr. Từ những phân tích trên, tác giả xin đưa ra khái niệm biện pháp bắt người trong TTHS như sau: “Biện pháp bắt người trong TTHS là BPNC trong TTHS, do những người có thẩm quyền theo luật định tiến hành áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã hoặc người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố khi có những căn cứ do luật định, theo trình tự thủ tục nhất định nhằm ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự được tiến hành nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật”.
Bắt người không phải là biện pháp trừng phạt của pháp luật đối với người phạm tội mà là BPNC trong TTHS được áp dụng để tước bỏ điều kiện gây ra tội phạm, chặn đứng hành vi phạm tội và hành vi trốn tránh pháp luật của người phạm tội, bảo đảm sự hoạt động đúng đắn của những cơ quan có thẩm quyền THTT. Bắt người trong TTHS là giữ người thực hiện hành vi phạm tội, không cho người đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đề phòng người đó bỏ trốn hoặc gây khó khăn cho hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc đấu tranh PCTP cũng như yêu cầu tăng cường pháp chế XHCN; bảo đảm quyền con người của công dân, kế thừa có chọn lọc các quy định về bắt người trong các văn bản pháp luật TTHS trước đây. BLTTHS năm 2015 quy định các trường hợp bắt người gồm: Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang; Bắt người đang bị truy nã; Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt tạm giam người bị yêu cầu dẫn độ [35, tr.
Những yêu cầu và vai trò của biện pháp ngăn chặn bắt người 1. Những yêu cầu của biện pháp ngăn chặn bắt người Trong hệ thống các BPNC của TTHS thì bắt người là biện pháp quan trọng 10 được áp dụng rất phổ biến. Việc áp dụng biện pháp bắt người không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với công tác đấu tranh PCTP nói chung và việc giải quyết các nhiệm vụ của quá trình TTHS nói riêng mà còn gắn liền với việc hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, nhất là các quyền tự do cá nhân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm. Do đó, BPNC bắt người được quy định rất chặt chẽ trong BLTTHS, là cơ sở cho hoạt động bắt người trên thực tiễn, tránh vận dụng biện pháp bắt người một cách tuỳ tiện, dẫn đến bắt oan người vô tội, bắt không đúng thủ tục, bắt trái thẩm quyền.
Vì vậy, khi áp dụng biện pháp bắt người theo pháp luật TTHS các chủ thể tiến hành cần đảm bảo một số yêu cầu sau: - Yêu cầu về chính trị Bắt người đúng hay không đúng quy định của pháp luật, bắt oan, sai có ảnh hưởng trực tiếp đến những quyền cơ bản của công dân, do đó biện pháp bắt người theo TTHS luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị - xã hội, liên quan đến quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiện nay, có rất nhiều những thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đang tìm mọi cách để chống phá Nhà nước ta. Hoạt động bắt người phải đảm bảo tốt cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước và của địa phương trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của đất nước. Công tác đấu tranh PCTP nói chung và việc áp dụng BPNC bắt người trong quá trình giải quyết VAHS nói riêng đều nhằm mục đích bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.
Xuất phát từ yêu cầy này, Đảng và Nhà nước đã có các hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động bắt người liên quan đến các đối tượng có ảnh hưởng lớn đến đời sống chính trị, kinh tế và xã hội. Khi tiến hành áp dụng BPNC bắt người đối với những đối tượng này thường tạo ra những luồng dư luận, ảnh hưởng đến những vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế dễ bị những thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, tuyên truyền nhằm làm giảm uy tín của Đảng và Nhà nuớc. Vì vậy, trong quá trình thực hiện cơ quan, người có thẩm quyền THTT cần vận dụng linh hoạt các quy định của pháp luật và tiên quyết thực hiện theo các chỉ đạo hướng dẫn của Đảng và Nhà nước về BPNC bắt người với những đối tượng đặc biệt. Đồng thời, xây dựng kế hoạch hạn chế những tiêu cực xảy ra khi tiến hành.
- Yêu cầu về pháp luật 11 Khoản 2, Điều 20, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 quy định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của TAND, quyết định hoặc phê chuẩn của VKSND, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định” [32, tr. Tại Điều 10 BLTTHS năm 2015 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS, trừ trường hợp phạm tội quả tang.