Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU 1. Khái niệm, đặc điểm, đối tượng, phạm vi và ý nghĩa thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm quyền sở hữu 1. Khái niệm thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm quyền sở hữu Theo quy định của pháp luật nước ta, thực hành quyền công tố (THQCT) được quy định trong Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 ( Luật tổ chức VKSND năm 2014), Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015). Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Khoản 1 Điều 3, Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”[78, tr1]. Điều 20, BLTTHS năm 2015 quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”[69, tr17]. Đồng thời, trong từng giai đoạn tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 đều quy định nhiệm vụ, quyền hạn THQCT của VKSND, như tại các điều 159, 161, 165, 236, 266 BLTTHS năm 2015. 6 luan an Để hiểu một cách sâu sắc và toàn diện về thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự nói chung và trong điều tra các vụ án hình sự nói chung và về các tội xâm phạm sở hữu nói riêng, chúng ta cần hiểu rõ về quyền công tố trong khoa học pháp lý hình sự.
Công tố là một từ ghép Hán - Việt được hình thành bởi hai từ đơn “công” và “tố”. Theo Từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Khoa học xã hội xuất bản năm 1994 tại các trang 200, 204, 973 thì: “tố” có nghĩa là nói công khai cho mọi người biết việc làm sai trái, phạm pháp của người khác, còn “công” có nghĩa là thuộc về Nhà nước chung cho mọi người, khác với “tư”; “công tố” là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu ý kiến trước tòa án”. “Công tố” theo Từ điển tiếng Việt là một khái niệm bao gồm bốn nội dung: điều tra, truy tố, buộc tội kẻ phạm pháp và phát biểu trước tòa án. Quyền công tố là quyền của Nhà nước để điều tra, truy tố, buộc tội và phát biểu trước tòa án về tội phạm và người phạm tội.
Quyền công tố trong pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta cũng đã có những bước hoàn thiện cả trong xây dựng pháp luật và nhận thức về mặt lý luận. Trong những năm trước đây, dựa vào những quy định của Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 1981 thì quyền công tố được hiểu là một trong những nội dung của kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Theo cách hiểu này, quyền công tố không phải là một quyền năng pháp lý độc lập của Viện kiểm sát mà chỉ là một nhiệm vụ thuộc chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và nằm trong chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Do vậy, mặc dù trong Hiến pháp năm 1980, 1992 đã xuất hiện thuật ngữ “thực hành quyền công tố” trong các điều quy định về Viện kiểm sát nhân dân, nhưng trong Luật tổ chức VKSND 1981, 1992 vẫn chưa quy định thực hành quyền công tố là một chức năng riêng biệt.
Những nội dung thuộc về thực hành quyền công tố như phê chuẩn, không phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định của CQĐT vẫn nằm trong nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát điều tra. Đến Luật tổ chức 7 luan an VKSND năm 2002 thì tại Điều 13 đã quy định THQCT là một chức năng độc lập, tách biệt với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKSND. Từ đó đến nay, về mặt lý luận đều thống nhất nhận thức rằng: quyền công tố là quyền tư pháp hình sự mà Nhà Nước dùng để đấu tranh chống tội phạm, quyền công tố được Nhà Nước giao cho VKSND thực hiện trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, do vậy, quyền công tố chính là một trong những quyền năng pháp lý quan trọng của VKS, bảo đảm cho VKS có đủ thẩm quyền để đấu tranh chống mọi hành vi phạm tội, chống mọi oan sai và bỏ lọt tội phạm trong tố tụng hình sự. Thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng của VKSND, là việc VKSND đại diện Nhà Nước thực hiện quyền công tố trong tố tụng hình sự bằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự, truy tố bị can ra trước tòa án và buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự.
Chức năng thực hành quyền công tố luôn đi đôi và gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời với chức năng kiểm sát hoạt động tu pháp trong tố tụng hình sự của VKS. Do đó, THQCT chính là việc chủ thể của quyền công tố - VKSND - thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đối với các đối tượng là tội phạm và người phạm tội để đạt được mục tiêu đã xác định là thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội người phạm tội. Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013, Điều 3, Luật tổ chức VKSND năm 2014, các Điều 20, 159, 161, 165, 236, 266 BLTTHS năm 2015 thì Viện kiểm sát THQCT để thực hiện việc phát hiện tội phạm, truy cứu TNHS, truy tố và buộc tội người phạm tội, pháp nhân phạm tội trước Tòa án. Đồng thời, trong từng giai đoạn tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 đều quy định nhiệm vụ quyền hạn thực hành quyền công tố của VKSND, như tại các điều 159, 161, 165, 236, 266 BLTTHS năm 2015.
Để có thể truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội người bị buộc tội trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự thì Viện kiểm sát được Nhà Nước 8 luan an trao cho nhiệm vụ, quyền hạn tố tụng quan trọng thuộc nội dung thực hành quyền công tố như: (1) Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (sau đây gọi chung là CQĐT) khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; (2) Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật; (3) Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong các trường hợp do BLTTHS quy định; (4) Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do; (5) Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của BLTTHS; (6) Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; (7) Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố; (8) Khởi tố 9 luan an vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; (9) Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án; (10) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của BLTTHS. Như vậy, chúng ta thấy, những hoạt động hoặc quyết định của VKS làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một sự kiện pháp lý hình sự, hướng đến việc phát hiện tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự, truy tố, buộc tội là thuộc nội dung thực hành quyền công tố của VKS. Những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát sử dụng để phát hiện vi phạm và yêu cầu xử lý vi phạm pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng là những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát hoạt động tư pháp).