Chương 1: Những vấn đề cơ bản về thủ tục tố tụng hình sự đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Chương 2: Thực tiễn áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên và một số kiến nghị CHUONG 1 NHỮNG VẤN DE CO BAN VỀ THỦ TỤC TO TUNG HÌNH Sự ĐỐI VỚI NHỮNG VU áN Mã BỊ CAN, BỊ CáO Lä NGƯỜI CHUA THANH NIÊN 1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI VỤ ÁN MÀ BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. Khái niệm thủ tục tố tụng hình sự đối với vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên Trong thực tế áp dụng pháp luật đang có cách hiểu chưa chính xác về người chưa thành niên phạm tội và bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Trước khi làm rõ khái niệm thủ tục tố tụng hình sự đối với vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên cần thiết thống nhất cách hiểu về người chưa thành niên phạm tội va bị can, bi cáo là người chưa thành niên.
Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ học Việt Nam, năm 2000 đã đưa ra khái niệm về người chưa thành niên như sau: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đây đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”. Dựa vào khái niệm nay chúng ta có thể xác định được người chưa thành niên trên hai góc độ: Thứ nhất, người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ và tinh thần. Sự chưa phát triển đầy đủ, toàn điện đó là đo họ chưa phải là người thành niên (chưa đủ 18 tuổi), nhưng cũng không phải là trẻ con. Người chưa thành niên là người đang ở giai đoạn phát triển, hình thành nhân cách và chưa thể có suy nghĩ chín chắn khi quyết định hành vi của mình.
Do tư duy của họ chưa phát triển hoàn thiện nên họ chưa có hiểu biết đầy đủ về những khái niệm thông thường trong cuộc sống hàng ngày, tính làm chủ bản thân còn thấp, khả năng tự kiểm chế chưa cao. Họ có xu hướng muốn tự khẳng định mình, nhưng lại là người dé tự ái, tự ti, hiếu thắng, thiếu kiên nhẫn, thiếu tính thực tế, dé bị tổn thương, dé bị kích động vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm. Thứ hai, người chưa thành niên là người chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công đân. Chính độ tuổi của người chưa thành niên là sự phân ranh giới phân biệt giữa họ với người thành niên.
Do đặc điểm của người Việt Nam mà Nhà nước ta đã nhất quán xác định độ tuổi ranh giới này là từ 18 tuổi tròn. Độ tuổi đối với một người có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân là đủ 18 tuổi. Người dưới 18 tuổi chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân liên quan đến một số quyền, nghĩa vụ về chính tri. Trên cơ sở giới hạn độ tuổi, các văn bản pháp luật nước ta cũng giới hạn quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của người chưa thành niên khi tham gia vào các quan hệ pháp luật.
Trong pháp luật hình sự, Điều 68 BLHS Việt Nam quy định: Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội, và những quy định khác của phần chung BLHS không trái với những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội. Như vậy, “người chưa thành niên phạm toi" trong luật hình sự chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. Việc quy định vấn đề người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự trước hết có ý nghĩa xác định ranh giới giữa tội phạm với không phải là tội phạm. Một người nếu chưa đủ 14 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoặc một người từ đủ 14 nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, hoặc tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý thì đều không phải chịu trách nhiệm hình sự.
Ngoài ra, quy định vấn đề người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự còn có ý nghĩa thể hiện nguyên tac cá thé hoá trách nhiệm hình sự, nguyên tắc giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên phạm tội sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Như vậy, khái niệm "người chưa thành niên phạm toi" được quy định trong luật hình sự chủ yếu nhằm xác định tội phạm đối với hành vi do người chưa thành niên thực hiện và lượng hình cần áp dụng với người chưa thành niên phạm tội cho phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm mà họ đã phạm trên cơ sở những đặc điểm tâm, sinh lý của họ vào thời điểm họ phạm lội. Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự. Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử.
BỊ can, bị cáo là người chưa thành niên thoả mãn những quy định pháp lý về bị can, bị cáo, nhưng họ lại đang ở độ tuổi từ đủ 14 nhưng chưa đủ 18. Do đó, đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên phải được tiến hành theo một thủ tục đặc biệt được quy định tại chương XXXI BLTTHS. Các quy định này nhằm mục đích đưa ra những thủ tục tố tụng sao cho phù hợp với các đặc điểm tâm, sinh lý của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước các cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài ra, các quy định này còn nhằm kết hợp hài hoà giữa các biện pháp cưỡng chế và giáo dục, thuyết phục, tạo ra những điều kiện cần thiết để người chưa thành niên sửa chữa những sai lầm, sớm trở thành người có ích cho xã hội.
Do đó có thể hiểu, bi can, bị cáo là người chưa thành niên với nghĩa bị can, bị cáo là người đang ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 ở thời điểm các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tung hình sự đối với họ. Như vậy, khái niệm người chưa thành niên phạm tội và khái niệm bị can, bị cáo là người chưa thành niên có một số điểm khác nhau xuất phát từ góc độ phát sinh các quy định của pháp luật mà trong đó người chưa thành niên là chủ thể. Quy định đối với người chưa thành niên phạm tội trong BLHS chỉ áp dụng với đối tượng là người chưa thành niên ở thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội. Còn quy định thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong BLTTHS được áp dụng với đối tượng là bi can, bị cáo vào thời điểm áp dụng các thủ tục tố tụng hình sự, họ là người chưa thành niên.
Trong trường hợp một người vào thời điểm thực hiện tội phạm là người chưa thành niên, nhưng khi họ bị phát hiện và là bị can, bị cáo của vụ án đang được giải quyết lại là người thành niên thì không áp dụng thủ tục này vì hiện tại bị can, bị cáo là người thành niên. Nếu áp dụng thủ tục này thì sẽ không phù hợp trong các hoạt động tố tụng nữa mà áp dụng thủ tục tố tụng bình thường, tức là không bắt buộc phải có luật sư cũng như không nhất thiết phải cử hội thẩm là giáo viên, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh khi xét xử tại phiên toà. Như vậy, vào thời điểm các thủ tục tố tụng hình sự được thực hiện đối với bị can, bị cáo là người chưa thành niên, họ đang ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18. Do vậy, Điều 271 BLTTHS quy định: "Thu tục tố tụng đối với những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên được áp dụng theo quy định của chương này đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của chương nay".
Điều này có nghĩa, khi điều tra, truy tố, xét xử những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên không chỉ phải thực hiện các quy định chung về thủ tục tố tụng, mà còn thực hiện theo quy định của chương XXXI BLTTHS: "Thủ tục về những vụ án mà bị can, bi cáo là người chưa thành niên". Tất cả những thủ tục đó đều nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người chưa thành niên. Tóm lại, từ tất cả sự phân tích các đặc điểm trên đây về bị can, bị cáo là người chưa thành niên và thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên có thể hiểu: "Thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên là những thủ tục đặc biệt cân thực hiện khi tiến hành giải quyết vụ án mà bị can, bi cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm giải quyết đúng ddan, khách quan vụ án và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ trong các hoạt động tố tụng hình sự”. Những căn cứ quy định thủ tục về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên 1.
Đặc điểm tâm - sinh lí của người chưa thành niên Người chưa thành niên trong độ tuổi từ đủ 14 đến dưới 18 là người đang ở độ tuổi phát triển mạnh về thé chất và tinh thần. Day là thời kì chuyển tiếp từ tuổi trẻ con sang tuổi người lớn. Người chưa thành niên không còn thoả mãn với vai trò thụ động của những người được day dỗ, nhưng mặt khác, lại chưa là người lớn. Sự vươn lên vị trí độc lập diễn ra rất tự phát, nhưng đôi khi xét về yếu tố tâm lí, sự khao khát vươn tới đó lại bị rơi vào tư tưởng hoài nghi trước những vấn đề xã hội phức tạp.
Trong giai đoạn diễn biến phức tạp của trạng thái tâm- sinh lí trên, pháp luật đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Vai trò pháp luật ở giai đoạn phát triển này được thể hiện trước hết ở chỗ, nó chi phối một cách mạnh mẽ cách nhìn nhận, đánh giá mọi sự việc, hiện tượng dựa trên sự đối chiếu so sánh những tiêu chuẩn có tính pháp quy để từ đó xác định phương thức xử thế cho mình. Bên cạnh những người chưa thành niên đang cố gắng trau đồi kiến thức, nỗ lực vươn lên tự hoàn thiện mình thì vẫn còn có một số thiếu sự rèn luyện nghiêm túc.