Chương 1 NHỮNG VẤN Ề LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận về kháng nghị phúc thẩm hình sự 1. Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự Theo khoản 1, Điều 107 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam năm 2013, Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Khoản 1, Điều 2, Luật tổ chức VKSND năm 2014, VKSND có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
VKSND là cơ quan duy nhất được giao chức năng thực hành quyền công tố. Hoạt động này được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội. Trong giai đoạn xét xử, VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố để bảo vệ quan điểm truy tố theo cáo trạng, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời, VKSND còn thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án.
Nếu xét thấy bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hoặc vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hình sự, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng thì Viện kiểm sát (VKS) cùng cấp hoặc cấp trên trực tiếp sẽ sử dụng một quyền năng pháp lý đặc biệt để yêu cầu Tòa án cấp trên tiến hành xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm, đó là quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự. 7 luan an Khoản 1, Điều 5 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì VKSND phải kháng nghị. Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của VKSND theo quy định của pháp luật”. Như vậy, kháng nghị là một quyền năng pháp lý quan trọng của VKS khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “kháng nghị” là bày tỏ ý kiến chống lại điều đã quyết nghị [20, tr. 894]; “phúc thẩm” là xét lại những vụ án do Tòa án dưới đưa lên [20, tr. Theo Từ điển Luật học, “kháng nghị” của VKS là việc VKS khi thực hành quyền kiểm sát hoạt động tư pháp không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án, gửi văn bản đến Tòa án có thẩm quyền làm ngưng hiệu lực thi hành đối với toàn bộ hoặc một phần bản án đó để xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đảm bảo cho vụ án được xét xử chính xác, khách quan, đúng pháp luật [8, tr. 731]; “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm” chỉ có VKS cùng cấp, cùng lãnh thổ với Tòa án đã ra bản án, quyết định sơ thẩm và VKS cấp trên trực tiếp của VKS này mới có quyền kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm.
Từ đó, có thể hiểu kháng nghị là hành vi tố tụng của VKS, thể hiện việc không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án, với mục đích bảo đảm cho việc xét xử được chính xác, khách quan, công bằng đồng thời khắc phục, sửa chữa những sai sót trong bản án, quyết định của Tòa án [3]. Điều 232 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2003 quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng 8 luan an nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm”. Điều 36 LTTHS năm 2003 quy định: “…2. Khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng đối với vụ án hình sự, Viện trưởng Viện kiểm sát có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: i) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án”.
Khoản 2, Điều 41 LTTHS năm 2015 quy định Viện trưởng VKS có quyền: “o) Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của Bộ luật này”. Khoản 3, Điều 4 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: d) Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án có vi phạm pháp luật”. Như vậy, pháp luật đã quy định rõ khi xét thấy những bản án và quyết định sơ thẩm của Tòa án có vi phạm pháp luật nghiêm trọng thì VKS cùng cấp và VKS cấp trên trực tiếp có thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm. Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý quan trọng, xuất phát từ chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự của VKS và xuất phát từ nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hình sự nước ta đó là bảo đảm hai cấp xét xử.
Theo nội dung của nguyên tắc này, một vụ án có thể được xét xử qua hai cấp, từ đó những vấn đề của vụ án sẽ một lần nữa được xem xét, phân tích, đánh giá, làm cơ sở cho các phán quyết của Tòa án đảm bảo độ chính xác, khách quan cao hơn. Thông qua hoạt động xét xử vụ án hình sự qua hai cấp xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm có thể kịp thời sửa chữa những sai lầm, thiếu sót trong những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm. Đồng thời, việc xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử sẽ giúp tìm ra nguyên nhân của những sai lầm hay những vi phạm pháp luật 9 luan an trong việc áp dụng pháp luật của Tòa án nói riêng và các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, kháng nghị của VKS không phải chỉ có trong trình tự phúc thẩm mà còn là căn cứ để xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Cụ thể, kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục tái thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, nếu kháng nghị là căn cứ để xét xử theo thủ tục phúc thẩm thì gọi là kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Tuy nhiên, do giới hạn của phạm vi nghiên cứu nên đề tài chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu về kháng nghị phúc thẩm hình sự. Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự đã được đề cập nhiều trong khoa học pháp lý nước ta. Tuy nhiên, trong LTTHS hiện hành, các văn pháp pháp lý khác và trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra một định nghĩa thống nhất về khái niệm “kháng nghị phúc thẩm hình sự”.
Có tác giả cho rằng kháng nghị phúc thẩm là quyền năng pháp lý được Nhà nước giao cho VKSND để kháng nghị những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cùng cấp và cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời [11]. Quan điểm khác lại định nghĩa kháng nghị phúc thẩm là một văn bản do VKS ban hành yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử nhưng xét thấy không đúng pháp luật [21]. Trên cơ sở phân tích nội dung, đặc điểm, đặc trưng, mục đích của kháng nghị phúc thẩm hình sự, nghiên cứu các tài liệu có liên quan cũng như tiếp thu các quan điểm của các nhà khoa học về tố tụng hình sự, tác giả đưa ra 10 luan an định nghĩa về kháng nghị phúc thẩm hình sự như sau: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý mà Nhà nước giao cho Viện kiểm sát nhân dân thể hiện quan điểm của Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại bản án, quyết định hình sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật theo trình tự phúc thẩm. Qua đó nhằm bảo đảm việc xét xử của Tòa án được thực hiện theo đúng pháp luật, việc xét xử nghiêm minh, kịp thời, đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm hình sự Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự có một số đặc điểm cơ bản như sau: - Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý mà Nhà nước giao cho VKSND. Đây là chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS đã được quy định tại Khoản 1 Điều 107 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 và được cụ thể hóa trong Luật tổ chức VKSND năm 2014. Thông qua công tác kháng nghị, VKS đồng thời thực hiện được chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định: “Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự”.
ên cạnh chức năng thực hành quyền công tố thì VKS còn có nhiệm vụ quan trọng khác trong tố tụng hình sự, đó là chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp. Theo đó, VKS sẽ kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố 11 luan an và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự cho đến khi thi hành các bản án, quyết định của Tòa án.