Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình cải cách tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ: "Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân". Để thể chế hóa chủ trương này, việc hoàn thiện cơ chế bảo đảm tranh tụng trong xét xử được đặt ra như một yêu cầu trọng tâm. Tranh tụng tại phiên tòa đòi hỏi sự tham gia đầy đủ, hợp pháp của các chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng; nếu các điều kiện này không được bảo đảm, việc xem xét hoãn phiên tòa là bắt buộc nhằm tránh làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
Sau gần 06 năm thi hành, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS 2015) đã khắc phục nhiều vướng mắc của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Tuy nhiên, quá trình áp dụng chế định hoãn phiên tòa sơ thẩm trên thực tế đã bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý và bất cập thực tiễn, đặc biệt tại địa bàn có khối lượng thụ lý và tính chất tội phạm phức tạp như Thành phố Hồ Chí Minh. Khóa luận tốt nghiệp "Thực tiễn về hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh" do sinh viên Phùng Thị Minh Tâm thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Trần Như Khuê (Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023) tập trung làm rõ những vấn đề này.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là phân tích toàn diện chế định hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm từ lý luận đến thực tiễn xét xử tại Thành phố Hồ Chí Minh, qua đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng. Khóa luận xác định 03 mục tiêu và 03 nhiệm vụ cụ thể:
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng áp dụng quy định hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân hai cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2019–2023.
- Xác định nguyên nhân của các hạn chế, từ đó đề xuất các kiến nghị lập pháp và giải pháp thực thi.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, hệ thống hóa các vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý và đặc điểm của hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm.
- Thu thập, tổng hợp số liệu công tác xét xử và phân tích các vụ án, quyết định hoãn phiên tòa điển hình tại Thành phố Hồ Chí Minh để chỉ ra các vướng mắc thực tế.
- Xây dựng phương hướng, giải pháp hoàn thiện quy định của BLTTHS 2015 và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, người tiến hành tố tụng tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm hệ thống lý luận về hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm, thực trạng áp dụng pháp luật tại Thành phố Hồ Chí Minh, cùng các phương hướng, giải pháp hoàn thiện. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào các Tòa án nhân dân cấp quận/huyện và Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; phạm vi thời gian khảo sát thực tiễn kéo dài từ năm 2019 đến đầu năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên hệ thống văn bản pháp lý quốc tế, Hiến pháp và pháp luật tố tụng hình sự thực định:
- Cơ sở pháp lý quốc tế và Hiến định: Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 (Điều 10), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Điều 14), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (khoản 1 Điều 102 và khoản 2 Điều 31 về quyền được xét xử kịp thời, công bằng, công khai).
- Văn bản pháp luật tố tụng: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), trọng tâm là Điều 297 (hoãn phiên tòa), Điều 251 (tạm ngừng phiên tòa), Điều 286, 288, 289, 290, 291, 292, 293, 294, 295, 296, 299, 326, 456, 463; đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (năm 1990).
- Văn bản hướng dẫn áp dụng: Nghị quyết số 33/2021/QH15 của Quốc hội về tổ chức phiên tòa trực tuyến; Thông tư liên tịch số 05/2021/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP; Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (Mẫu số 43-HS về Quyết định hoãn phiên tòa).
Tác giả sử dụng kết hợp 03 phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Rà soát, tiếp cận có chọn lọc các giáo trình chuyên ngành, sách bình luận khoa học, luận văn thạc sĩ và bài viết trên các tạp chí pháp lý (Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam).
- Phương pháp so sánh, liệt kê: So sánh quy định của BLTTHS 2015 với BLTTHS 2003, phân định ranh giới pháp lý giữa thủ tục hoãn phiên tòa (Điều 297) và thủ tục tạm ngừng phiên tòa (Điều 251).
- Phương pháp nghiên cứu án điển hình (case study): Trích xuất, phân tích các quyết định hoãn phiên tòa thực tế và hồ sơ các vụ án hình sự sơ thẩm tại Tòa án nhân dân các quận Gò Vấp, Tân Bình, Quận 5, Quận 8 để minh chứng cho các vướng mắc lý luận.
Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ Báo cáo kết quả công tác xét xử của Văn phòng Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (năm công tác 2021), các quyết định tố tụng ban hành tại các TAND quận/huyện và các tư liệu báo chí pháp luật chuyên ngành.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm
Chương 1 xây dựng khung lý thuyết toàn diện về chế định hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm thông qua các nội dung:
- Khái niệm và đặc điểm: Khái quát quan điểm của các học giả (Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài, Lê Nguyên Thanh, Nguyễn Văn Trượng), từ đó đưa ra định nghĩa: Hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm là việc Tòa án tạm dừng mở phiên tòa hoặc tạm dừng việc xét xử trong một khoảng thời gian nhất định vì các lý do được Hội đồng xét xử hoặc người có thẩm quyền quyết định; khi mở lại phiên tòa, vụ án phải được xét xử lại từ đầu.
- Phân biệt hoãn phiên tòa và tạm ngừng phiên tòa:
| Tiêu chí |
Hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm (Điều 297) |
Tạm ngừng phiên tòa (Điều 251) |
| Thời điểm phát sinh |
Trước hoặc tại phiên tòa khi có căn cứ luật định |
Khi phiên tòa đã mở và đang tiến hành xét xử |
| Thời hạn áp dụng |
Không quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định |
Không quá 05 ngày kể từ ngày ra quyết định |
| Hệ quả khi tiếp tục |
Vụ án phải được tiến hành xét xử lại từ đầu |
Tiếp tục xét xử vụ án từ thời điểm tạm ngừng |
| Xử lý khi hết hạn |
Không có thủ tục chuyển tiếp |
Nếu hết 05 ngày không thể tiếp tục thì phải hoãn phiên tòa |
- Ý nghĩa và cơ sở pháp lý: Hoãn phiên tòa bảo đảm sự có mặt của người tiến hành và người tham gia tố tụng; bảo đảm việc thu thập chứng cứ, kết luận giám định, định giá tài sản được chính xác, khách quan; hiện thực hóa quyền con người và nguyên tắc tranh tụng trong xét xử.
- Phân tích quy định BLTTHS 2015: Khảo sát hai nhóm căn cứ hoãn theo khoản 1 Điều 297:
- Nhóm 1 (điểm a): Thay đổi hoặc vắng mặt người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên không có người dự khuyết thay thế); vắng mặt người tham gia tố tụng (bị cáo vắng vì bất khả kháng; người bào chữa vắng lần thứ nhất vì lý do chính đáng; bị hại, đương sự, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch vắng mặt gây trở ngại cho xét xử).
- Nhóm 2 (điểm b, c, d): Cần xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện ngay tại phiên tòa; cần giám định bổ sung, giám định lại; cần định giá tài sản, định giá lại tài sản.
- Thời điểm, thẩm quyền, thời hạn và thủ tục: Thẩm quyền quyết định thuộc về Hội đồng xét xử (Chủ tọa ký thay mặt) hoặc Chánh án (khi Chủ tọa vắng mặt hoặc bị thay đổi); thời hạn hoãn tối đa là 30 ngày; hình thức quyết định lập theo Mẫu số 43-HS ban hành kèm Nghị quyết số 05/2017/NQ-HĐTP.
Chương 2: Thực trạng hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2 phân tích thực tế áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh qua 6 nhóm nội dung và hệ thống số liệu công tác:
- Thực tiễn về căn cứ hoãn phiên tòa: Xuất hiện nhiều trường hợp hoãn phiên tòa ngoài danh mục liệt kê tại Điều 297 BLTTHS 2015:
- Hoãn do vắng mặt Điều tra viên được triệu tập theo Điều 296 (chưa được ghi nhận tại điểm a khoản 1 Điều 297).
- Hoãn do hồ sơ chưa tống đạt Cáo trạng hoặc Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị cáo theo đúng thời hạn luật định (Quyết định số 49/2022/HSST-QĐ ngày 14/9/2022 của TAND quận Tân Bình).
- Hoãn do sự kiện bất khả kháng, thiên tai, dịch bệnh trên diện rộng.
- Số liệu công tác xét xử chịu ảnh hưởng bởi hoãn phiên tòa (Năm công tác 2021):
| Chỉ tiêu công tác |
Thụ lý cũ |
Thụ lý mới |
Tổng thụ lý |
Đã giải quyết |
Còn lại |
Tỷ lệ giải quyết |
| Án hình sự (vụ) |
13 |
5.790 |
5.803 |
4.403 |
1.400 |
75,87% |
| Bị cáo (người) |
31 |
11.470 |
11.501 |
8.705 |
2.796 |
— |
(Nguồn: Báo cáo công tác 12 tháng năm 2021 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh, kỳ từ 01/10/2020 đến 30/09/2021)
Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, từ giữa tháng 4/2021 đến tháng 6/2021, TAND hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh đã phải hoãn xét xử hơn 18.000 vụ việc các loại. Từ tháng 6/2021 đến tháng 9/2021, toàn bộ các vụ án đã có quyết định đưa ra xét xử đều phải tạm dừng do áp dụng biện pháp giãn cách xã hội và các trại giam dừng trích xuất bị cáo.
- Thực tiễn về thẩm quyền và thời điểm hoãn: Luật quy định việc hoãn phiên tòa phải do Hội đồng xét xử quyết định tại phòng nghị án sau khi đã mở phiên tòa. Thực tế cho thấy nhiều trường hợp đương sự gửi đơn xin hoãn có xác nhận y tế hợp lệ trước ngày mở phiên tòa, việc vẫn phải mở phiên tòa hình thức chỉ để ra quyết định hoãn gây lãng phí chi phí tố tụng. Một số trường hợp Thẩm phán ra thông báo hoãn trước ngày xử nhưng chưa có quy định điều chỉnh rõ ràng.
- Thực tiễn về thời hạn và số lần hoãn: Đa số các quyết định tuân thủ mốc tối đa 30 ngày. Tuy nhiên, luật không khống chế số lần hoãn khiến nhiều vụ án bị kéo dài. Điển hình là vụ án Nguyễn Văn Thanh tại TAND Quận 5 bị truy tố về tội "Cố ý gây thương tích" (Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 30/01/2019), phiên tòa sơ thẩm đã bị hoãn tổng cộng 06 lần (các đợt: 26/4/2019 hoãn do vắng nhân chứng, giám định viên; 21/5/2019 tạm hoãn trả hồ sơ điều tra bổ sung; 07/10/2019 vắng giám định viên, bác sĩ; 05/11/2019 tiếp tục trả hồ sơ giám định lại thương tật; 14/01/2020 Kiểm sát viên ốm đột xuất; đến 27/5/2020 mới xét xử sơ thẩm).
- Nguyên nhân hạn chế:
- Khách quan: Quy định pháp luật còn thiếu đồng bộ giữa Điều 251 và Điều 297; thiếu cơ chế xử lý khi có trở ngại khách quan đặc thù; lượng án thụ lý tại TP.HCM quá lớn.
- Chủ quan: Tinh thần trách nhiệm của một số Thẩm phán, Thư ký trong công tác tống đạt văn bản tố tụng chưa cao; việc triệu tập người làm chứng, người giám định chưa triệt để; cơ sở vật chất phục vụ xét xử trực tuyến thời gian đầu chưa đồng bộ.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả về hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả đề xuất 03 nhóm giải pháp cụ thể:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định của BLTTHS 2015:
- Bổ sung căn cứ hoãn phiên tòa vào khoản 1 Điều 297: (i) Trường hợp Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thụ lý giải quyết vụ án được triệu tập nhưng vắng mặt gây trở ngại cho việc xét xử; (ii) Trường hợp bị cáo chưa nhận được Cáo trạng hoặc Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn luật định và có yêu cầu hoãn; (iii) Bổ sung lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan khác (dịch bệnh, thiên tai) nếu không thuộc trường hợp tổ chức phiên tòa trực tuyến theo Nghị quyết số 33/2021/QH15.
- Sửa đổi, bổ sung quy định cho phép hoãn phiên tòa trước ngày mở phiên tòa khi có căn cứ rõ ràng và giao thẩm quyền này cho Chánh án Tòa án xem xét, quyết định.
- Bổ sung quy định về thẩm quyền hoãn phiên tòa sơ thẩm theo thủ tục rút gọn tại Điều 463 BLTTHS 2015 do Thẩm phán duy nhất chủ tọa quyết định, thay vì quy định chung thuộc về Hội đồng xét xử.
- Sửa đổi khoản 2 Điều 251 và Điều 297 nhằm tạo tính liên kết, thống nhất khi chuyển tiếp từ tạm ngừng phiên tòa sang hoãn phiên tòa.
- Nhóm giải pháp đối với Cán bộ, Công chức Tòa án và Người tiến hành tố tụng:
- Nâng cao nghiệp vụ trong khâu chuẩn bị xét xử, rà soát chặt chẽ việc tống đạt văn bản tố tụng cho bị cáo và đương sự; dự liệu Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên dự khuyết đối với các vụ án phức tạp.
- Tăng cường phối hợp giữa Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong việc triệu tập người làm chứng, giám định viên tham gia phiên tòa.
- Kiến nghị nâng cao hiệu quả cho các TAND tại Thành phố Hồ Chí Minh:
- Đẩy mạnh áp dụng mô hình phiên tòa xét xử trực tuyến theo Thông tư liên tịch số 05/2021 để khắc phục khó khăn khi người tham gia tố tụng bị cách ly hoặc ở xa.
- Thực hiện việc ấn định cụ thể ngày, giờ, địa điểm mở lại phiên tòa ngay trong quyết định hoãn, chấm dứt tình trạng ghi chung chung "sẽ thông báo sau", bảo đảm quyền chuẩn bị bào chữa của Luật sư và người tham gia tố tụng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với dữ liệu thực chứng:
- Kết quả lý luận và thực tiễn: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn bộ các căn cứ hoãn phiên tòa theo BLTTHS 2015; phân biệt rành mạch giữa thủ tục hoãn phiên tòa và tạm ngừng phiên tòa; chỉ ra các khoảng trống pháp lý qua số liệu xét xử án hình sự năm 2021 tại TP.HCM (giải quyết 4.403/5.803 vụ án thụ lý, đạt tỷ lệ 75,87%) và dữ liệu hơn 18.000 vụ việc bị hoãn do dịch bệnh.
- Đóng góp về mặt học thuật và lập pháp: Khóa luận làm rõ tính cần thiết của việc mở rộng thẩm quyền hoãn phiên tòa cho Chánh án trước ngày xét xử và Thẩm phán độc lập trong thủ tục rút gọn; kiến nghị bổ sung 03 căn cứ hoãn phiên tòa vào Điều 297 BLTTHS 2015 nhằm giải quyết các điểm nghẽn trong thực tiễn xét xử.
- So với các công trình nghiên cứu trước: Các công trình trước đây (như nghiên cứu của Nguyễn Văn Trượng, Lê Văn Meo, Dương Văn Thắng) chủ yếu phân tích trên nền tảng BLTTHS 2003, hoặc chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp liên quan đến vai trò của Viện kiểm sát và người bào chữa (Lê Quý Nhân, 2018). Khóa luận của Phùng Thị Minh Tâm đã tiếp cận toàn diện quy định của BLTTHS 2015 đặt trong bối cảnh xét xử trực tuyến theo Nghị quyết số 33/2021/QH15 và bối cảnh đặc thù của Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Tác giả tự nhìn nhận chưa có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu khoa học thực tế; nguồn số liệu thống kê chuyên biệt về các quyết định hoãn phiên tòa chưa được ngành Tòa án tách thành cơ sở dữ liệu riêng mà nằm phân tán trong các báo cáo tổng kết công tác xét xử chung; phạm vi khảo sát điển hình giới hạn tại một số quận/huyện trên địa bàn TP.HCM.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm trên quy mô toàn quốc hoặc liên tỉnh; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chế tài và kiểm soát số lần hoãn phiên tòa nhằm ngăn chặn tình trạng kéo dài vụ án, bảo đảm quyền được xét xử trong thời hạn hợp lý của công dân.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Cung cấp tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về chế định hoãn phiên tòa trong môn học Luật Tố tụng hình sự Việt Nam; đặc biệt là bảng phân tích đối sánh giữa hoãn phiên tòa và tạm ngừng phiên tòa tại Chương 1.
- Cán bộ tư pháp và người hành nghề luật (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư): Tham khảo các phân tích thực tiễn tại Chương 2 về lỗi thủ tục tống đạt Cáo trạng, việc triệu tập Điều tra viên, và kinh nghiệm xử lý các vụ án bị hoãn nhiều lần trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhà nghiên cứu xây dựng chính sách: Tham khảo các đề xuất lập pháp tại Chương 3 liên quan đến việc sửa đổi Điều 297, Điều 251, Điều 463 BLTTHS 2015 và triển khai phiên tòa trực tuyến.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của BLTTHS 2015, thời hạn hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm tối đa là bao nhiêu ngày?
Theo khoản 2 Điều 297 BLTTHS 2015, thời hạn hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa. Khi phiên tòa được mở lại, vụ án phải được tiến hành xét xử lại từ đầu.
2. Khóa luận chỉ ra điểm khác biệt cốt lõi giữa hoãn phiên tòa (Điều 297) và tạm ngừng phiên tòa (Điều 251) là gì?
Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở thời hạn áp dụng và hậu quả pháp lý: Tạm ngừng phiên tòa có thời hạn không quá 05 ngày và khi tiếp tục thì xử lý tiếp từ thời điểm dừng; trong khi hoãn phiên tòa có thời hạn tối đa 30 ngày và khi mở lại phiên tòa thì Hội đồng xét xử phải xét xử lại vụ án từ đầu.
3. Tại sao tác giả kiến nghị cho phép hoãn phiên tòa trước ngày mở phiên tòa?
BLTTHS 2015 quy định hoãn phiên tòa phải do Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định tại phiên tòa. Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp trước ngày mở phiên tòa đã xuất hiện lý do chính đáng rõ ràng (như bị cáo nhập viện cấp cứu có xác nhận của bệnh viện). Việc vẫn phải tổ chức mở phiên tòa chỉ để ra quyết định hoãn gây lãng phí thời gian, công sức và chi phí tố tụng của Tòa án và những người tham gia.
4. Vụ án điển hình nào tại Thành phố Hồ Chí Minh được tác giả phân tích để chứng minh sự bất cập của việc hoãn phiên tòa nhiều lần?
Đó là vụ án xét xử bị cáo Nguyễn Văn Thanh về tội "Cố ý gây thương tích" tại TAND Quận 5 (Cáo trạng số 37/CT-VKS năm 2019), phiên tòa sơ thẩm đã bị hoãn và tạm hoãn trả hồ sơ điều tra bổ sung tổng cộng 06 lần qua các năm 2019–2020 do vắng nhân chứng, giám định viên, thiếu kết quả giám định lại thương tật và Kiểm sát viên bị bệnh.
5. Khóa luận đề xuất bổ sung những căn cứ hoãn phiên tòa mới nào vào Điều 297 BLTTHS 2015?
Tác giả đề xuất bổ sung: (i) Điều tra viên hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thụ lý vụ án được triệu tập theo Điều 296 nhưng vắng mặt gây trở ngại xét xử; (ii) Bị cáo chưa nhận được Cáo trạng hoặc Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng hạn luật định và có yêu cầu hoãn; (iii) Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan (thiên tai, dịch bệnh) khi không thể tổ chức xét xử trực tuyến.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phùng Thị Minh Tâm đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý của chế định hoãn phiên tòa hình sự sơ thẩm theo BLTTHS 2015. Thông qua các số liệu công tác và các vụ án thực tế tại Tòa án nhân dân hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2019–2023, công trình đã nhận diện rõ những khoảng trống về căn cứ, thẩm quyền, thời điểm và số lần hoãn phiên tòa. Các giải pháp và kiến nghị lập pháp do tác giả đề xuất có tính thực tiễn, đóng góp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao chất lượng công tác xét xử tại các Tòa án địa phương.