Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƢỜI CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm quyền con ngƣời, quyền con ngƣời và bảo đảm quyền con ngƣời trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm quyền con người Theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho thấy tư tưởng về quyền con người đã xuất hiện từ rất sớm và có nhiều quan điểm khác nhau về quyền con người. Có thể chia thành ba nhóm quan điểm về quyền con người như sau: - Quan điểm thứ nhất: Quyền con người là đặc quyền tự nhiên.
Đặc quyền tự nhiên này do pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định. Các quyền này không một xã hội hay một chính phủ nào có thể ban phát, xóa bỏ hoặc “chuyển nhượng” và nó không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào. - Quan điểm thứ hai: Trái với quan điểm thứ nhất, quan điểm này cho rằng các quyền con người không phải những gì bẩm sinh, vốn có một cách tự nhiên, không thể bị tước bỏ, quyền con người là quyền pháp lý và nó phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị cũng như các yếu tố phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa… của các xã hội. - Quan điểm thứ ba: Là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vấn đề quyền con người.
Xuất phát từ việc coi con người là một thực thể tự nhiên, mang đặc tính xã hội, do đó, chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng vấn đề quyền con người: "Về bản chất bao hàm cả hai mặt tự nhiên và xã hội” [2]. Quyền con người là một phạm trù tổng hợp, vừa là "chuẩn mực tuyệt đối" mang tính phổ biến, vừa là "sản 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phẩm tổng hợp của một quá trình lịch sử lâu dài luôn luôn tiến hóa và phát triển". Quyền con người "không thể tách rời", đồng thời cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội… [31]. Ở Việt Nam, đã có nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa, các tiếp cận khác nhau về vấn đề quyền con người.TSKH Lê Văn Cảm: Quyền con người là một phạm trù lịch sử cụ thể, là giá trị xã hội cáo quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trưng tự nhiên vốn có cần được tôn trọng và không thể bị tước đoạt của bất kỳ cá nhân con người nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải được bảo vệ bằng pháp luật bởi các quốc gia thành viên Liên hợp quốc, cũng như bởi cộng đồng quốc tế [5, tr.
Còn theo TS Trần Quang Tiệp: Quyền con người là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ có con người mới được hưởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định [51, tr. Như vậy, dù tiếp cận hay nghiên cứu quyền con người ở góc độ nào, thì khái niệm về quyền con người vẫn cần đảm bảo thể hiện được những thuộc tính thuộc về quyền tự nhiên và quyền pháp lý của con người. Theo đó: Quyền con người là những giá trị tự nhiên mà con người được hưởng, phù hợp với những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định, được Nhà nước đảm bảo thực hiện. bao gồm các quyền về dân sự, chính trị như quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền tự do, quyền bình đẳng trước pháp luật… 1.
Quyền con người trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án hình sự 1. Quyền con người trong tố tụng hình sự Như trên đã phân tích, quyền con người là phạm trù phức tạp, nó liên 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan đến nhiều ngành khoa học như luật học, triết học, xã hội học, chính trị học, đạo đức học… Nhưng gần gũi hơn cả là luật học, bởi về nguyên tắc, các nhà nước trên thế giới chỉ bảo đảm thực hiện những quyền pháp lý – những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền và tự do tự nhiên, vốn có của cá nhân. Nói cách khác pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá trình chuyển hóa quyền tự nhiên thành những quyền con người.
Pháp luật đóng vai trò là công cụ giúp nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền con người của các chủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời cũng là công cụ của các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính họ thông qua việc vận dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế [13, tr. Vì vậy, pháp luật có vai trò đặc biệt, không thể thay thế trong việc ghi nhận, đảm bảo việc thực hiện quyền con người và thúc đẩy các quyền con người. Hiện nay, quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự, được các nhà nghiên cứu rất quan tâm, nhất là trong quá trình triển khai, thi hành Hiến pháp 2013, khi mà quyền con người được nhắc đến và ghi nhận một cách chi tiết, cụ thể hơn. Có thể nói, trong tố tụng hình sự, quyền con người được thể hiện trên hai khía cạnh: Thứ nhất, việc phát hiện, ngăn chặn, xử lý, khắc phục những thiệt hại và trừng trị những người phạm tội gây ra những thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của con người, cũng như đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, là góp phần bảo vệ quyền con người, quyền công dân [11, tr.
Thứ hai, những hoạt động tố tụng hình sự rất dễ xâm phạm đến quyền con người của những người bị tình nghi thực hiện tội phạm - “những người bị đưa vào vòng quay tố tụng”. Bởi các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tụng là những chủ thể được Nhà nước trao quyền, đại diện cho nhà nước, thể hiện tính chủ động, độc lập trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, khi mà khả năng truy nguyên dấu vết, đánh giá chứng cứ còn hạn chế thì khả năng các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân có thể bị xâm phạm và khả năng xảy ra việc làm oan sai, bỏ lọt tội phạm là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, khi giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo đảm quyền con người, không được lợi dụng việc tiến hành giải quyết vụ án xâm phạm đến quyền con người. Theo các Công ước quốc tế về quyền con người thì quyền con người trong tố tụng hình sự bao gồm: * Quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm… của cá nhân hoặc quyền không bị giam giữ một cách tùy tiện, được quy định tại Điều 9 (1) Công ước quốc tề về các quyền dân sự và chính trị, 1996 (viết tắt là ICCPR).
Cụ thể: “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền tự do đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định” [28]. Trên cơ sở của Điều 9 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948, thì Hiến chương Châu Phi về quyền con người và quyền dân tộc; Công ước Châu Mỹ về quyền con người hay Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản nhấn mạnh yếu tố “không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”.
Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước Tòa án, nhằm mục đích để Tòa án có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và trả lại tự do cho họ, nếu giam giữ là bất hợp pháp. Trong trường hợp sử dụng tạm giữ, tạm giam như là một biện pháp ngăn chặn, việc này không được tiến hành một cách tùy tiện mà phải tiến hành dựa theo các trình tự thủ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tục theo quy định của pháp luật, đồng thời phải đảm bảo được quyền được Tòa án quyết định tính hợp pháp của việc giam giữ, quyền được yêu cầu bồi thường trong trường hợp bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp. Bên cạnh đó, về nguyên tắc, không được phép đối xử với bị can theo cách thức trái với Điều 7 của Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, để buộc bị can phải thú tội. “Pháp luật quốc gia phải đảm bảo những lời khai, những lời nhận tội có được bằng phương thức trái với nguyên tắc không được coi là chứng cứ, trừ khi chúng được sử dụng làm bằng chứng của việc tra tấn hoặc những đối xử khác trái quy định”.
Công ước trên cũng xác định trách nhiệm thuộc về nhà nước trong việc phải chứng minh rằng những lời khai của bị cáo là do họ tự nguyện trình bày. - Quyền được xét xử công bằng bởi một thủ tục TTHS và tòa án công bằng, công khai. Ðiều 10 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người quy định: “Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét xử công bằng và công khai trước một tòa án độc lập và khách quan, để xác định các quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như để phán quyết về bất cứ sự buộc tội nào với họ”. Theo đó, Điều 14 (1) Công ước quốc tề về các quyền dân sự và chính trị cũng quy định: “Mọi người đều bình đẳng trước các tòa án và cơ quan tài phán.
Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một tòa án có thầm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội người đó trong các vụ án hình sự.” Điều 2 – Quy ước đạo đức của quan chức thi hành pháp luật nêu rõ: Trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình, các cán bộ thi hành pháp luật phải tôn trọng, bảo vệ nhân phẩm và duy trì, nêu cao quyền con người của tất cả mọi người.