Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ THÂN THỂ CỦA CÔNG DÂN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, nội dung bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân theo Luật Tố tụng hình sự 1. Khái niệm bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân theo Luật Tố tụng hình sự Quyền con người là vấn đề đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị- xã hội quốc tế và mỗi quốc gia. Dưới góc độ lịch sử và ở bình diện quốc tế, quyền con người gắn với sự đấu tranh vì tự do, bình đẳng, dân chủ và sự công bằng của con người.
Điều này được thể hiện qua các văn kiện quốc tế ghi nhận yêu cầu tôn trọng và bảo đảm các quyền con người như: Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ (Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc); Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Cộng hòa Pháp (Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng và quyền lợi…); Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (Ai cũng có quyền được sống, tự do, và an toàn thân thể) [10, Điều 3]; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân; không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ) [11, Điều 9]. Trên cơ sở các văn kiện quốc tế về quyền con người được các quốc gia thông qua, phê chuẩn cho thấy quyền con người có tính phổ quát, không có sự phân biệt, không thể bị tước bỏ và có tính đặc thù tùy thuộc vào điều kiện 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia (quyền được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền bào chữa, quyền được bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; quyền không bị tra tấn, dùng nhục hình. Bởi vậy, để bảo đảm các quyền con người, mỗi quốc gia đều ghi nhận và bảo vệ các quyền con người cho công dân bằng các biện pháp lập pháp, hành chính và tư pháp phù hợp với điều kiện của quốc gia mình.
Ở Việt Nam, kế thừa truyền thống tôn trọng và bảo vệ quyền con người trong lịch sử và những tư tưởng tiến bộ về quyền con người trên thế giới, ngay sau thành công của Cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trong đó nêu rõ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Với tư tưởng đó, từ năm 1945 đến nay, các quyền con người đã được ghi nhận, bảo đảm bởi pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và không ngừng được hoàn thiện qua các giai đoạn phát triển của đất nước. Trong các quyền con người, cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật của nước ta luôn đề cao quyền bất khả xâm phạm về thân thể của cá nhân và bảo đảm bởi các cơ chế pháp luật đặc biệt thông qua các quy định của Hiến pháp, các đạo luật và văn bản hướng dẫn thi hành.
Ví dụ như: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể” [18, Điều 20]; Chương XIV Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người); Bộ luật TTHS 2015 quy định: “Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể” [25, Điều 10]; Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể.; người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe. của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” [22, Điều 33, Điều 584]. Các quy định pháp luật về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân như vậy không chỉ thể hiện thái độ trân trọng của Nhà nước ta mà còn là cơ chế ngăn chặn mọi hành vi tùy tiện xâm phạm thân thể con người. Về bản chất, quyền bất khả xâm phạm về thân thể gắn liền với sự tự do cá nhân của con người (quyền được sống và hoạt động xã hội theo ý nguyện của mình, không bị cấm đoán, ràng buộc, xâm phạm) [31, tr.
1762-1763] mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi. Bởi vậy, có thể nói rằng quyền bất khả xâm phạm và tự do có mối quan hệ biện chứng với nhau; bảo đảm quyền bất khả xâm phạm của con người là điều kiện để giải phóng, phát huy tối đa sức mạnh tinh thần, thể chất của con người và ngược lại khi cá nhân bị xâm phạm về thân thể thì cũng có nghĩa là cá nhân đó đã bị xâm hại đến quyền tự do của mình. Từ đó có thể khái niệm “Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là bảo đảm quyền không bị xâm phạm tự do về thân thể của công dân được pháp luật công nhận”. Khái niệm trên cho thấy rằng khi pháp luật công nhận quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân thì Nhà nước phải có nghĩa vụ bảo đảm quyền này; đồng thời có biện pháp nghiêm cấm việc bắt, giữ, giam người (hạn chế sự tự do thân thể của con người) trái pháp luật và nếu có sự hạn chế quyền tự do thân thể của con người thì phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định và chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, về nguyên tắc, khi Nhà nước công nhận các quyền con người, quyền công dân thì các quyền đó là các giá trị xã hội cần được bảo đảm trở thành hiện thực vì lợi ích chung thông qua các biện pháp chính trị, kinh tế, pháp lý, văn hóa., trong đó bảo đảm pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Bảo đảm pháp lý theo nghĩa chung nhất có thể được hiểu là các phương tiện, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biện pháp được pháp luật quy định để bảo vệ quyền công dân trước mọi sự xâm hại và đảm bảo thực hiện quyền công dân trên thực tế. Căn cứ vào đối tượng cần bảo đảm, mục đích bảo đảm, có thể có bảo đảm pháp lý trong lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự, hình sự, TTHS, tố tụng hành chính… Đối với quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, từ thực tiễn bảo đảm quyền con người, quyền công dân, có thể nói rằng bảo đảm pháp lý trong TTHS đối với quyền này có ý nghĩa quan trọng nhất - đó là các biện pháp và phương tiện nhà nước quy định nhằm bảo vệ quyền bất khả xâm phạm của công dân trong TTHS. Tuy nhiên, trong TTHS - hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự thì một cá nhân có thể bị áp dụng các biện pháp hạn chế quyền tự do thân thể (vì mục đích bảo vệ lợi ích chung của xã hội), tuy nhiên, để bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, pháp luật quy định việc áp dụng các biện pháp hạn chế quyền tự do thân thể đó phải theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định; trường hợp cá nhân bị hạn chế quyền tự do thì cũng không bị tra tấn , bức cung , dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể , tính mạng, sức khỏe của con người.
Từ đó có thể khái niệm: “Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân theo Luật TTHS là các biện pháp pháp luật quy định để ngăn cấm việc bắt, giữ, giam người trái pháp luật và các hành vi xâm phạm thân thể , tính mạng, sức khỏe của con người”. Định nghĩa trên cho thấy việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động TTHS của các cơ quan có thẩm quyền và là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật TTHS – “Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể”. Bởi vậy, nguyên tắc này được coi là kim chỉ nam trong nhận thức và hoạt động của con người nói chung, các hoạt động TTHS của các cơ quan tiến hành TTHS nói riêng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Nội dung bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân theo Luật Tố tụng hình sự Mục đích của luận văn là nghiên cứu bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân dưới góc độ là một nguyên tắc của Luật TTHS ở Việt Nam, bởi vậy, trên cơ sở Hiến pháp, Bộ luật TTHS, có thể phân tích nguyên tắc này ở một số nội dung cơ bản sau đây: Một là, bảo đảm quyền không bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang Trong đời sống xã hội, pháp luật là cơ sở cho hành vi xử sự của các cá nhân, tổ chức trong đời sống xã hội nhưng thực tế do nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn có những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Khi cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật xâm hại các quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ bị coi là tội phạm thì Nhà nước quy định các biện pháp TTHS để xem xét, buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự, trong đó có các biện pháp ngăn chặn để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự. Các biện pháp ngăn chặn, theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là biện pháp cưỡng chế về TTHS do người có thẩm quyền tiến hành để ngăn chặn tội phạm hoặc đảm bảo cho hoạt động TTHS.