Chương 1: NHỮNG VAN DE CHUNG VE CHE ĐỊNH ÁN TREO 1. Khái niệm, đặc diem va ý nghĩa của án treo 1.1 Khái nigm Nhân đao được vi là thước đo của sự văn minh, tiên bộ của xã hội và luôn là niém khát vợng của con người cùng với những giá trị xã hội khác như công bằng bình đẳng, dân chủ,. Tu có thời han là một trong những hình phạt chính được quy định trong hệ thông hình phạt của BLHS Việt Nam. Tuy nhiên, tuỷ tùng vụ án cụ thể thì việc áp dụng hình phạt tù không phải là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất là đôi với việc giáo duc và cải tạo người phạm tdi Án treo là chế định bình sự ra đời từ rất sớm, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng và hướng thiên trong đường lối lãnh đạo của Dang ta.
Trải qua quá trình lịch sử phát triển lâu dài của khoa học hình sự Việt Nam, trong mỗi một giai đoạn lịch sử có rat nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau về án treo. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng án treo chưa bao giờ được cơi là hình. phạt trong hệ thông hình phạt ở nước ta. Van bản đầu tiên quy định về án treo là Sắc lệnh số 33C ngày 13/9/1945, tiếp đó chế đính nay được ghi nhận tạ sắc lệnh 21/SL ngày 14/02/1946.
Trong BLHS năm 1985, án treo được quy định tại Điều 44, trong BLHS năm 1999 án treo được quy định tại Điều 60 và hién nay án treo được quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 với nội dung “Khi xử phạt tì không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tôi và các tình tiết giảm nhe, nêu xét thay không cân phái bắt chấp hành hình phat tù thì Tòa ăn cho hướng án treo và ấn đình thời gian thử thách từ một năm đẫn năm năm và thực hiện các ngÌĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy dinh của Luật thi hành án hình sự" BLHS 2015 không đưa ra khái niệm về án treo mà nghiêng về điều kiện cho hưởng án treo. V ây nên dé hướng dẫn thi hành thống nhất BLHS năm 2015, Hội đồng thấm phán TAND tối cao giải thích cụ thé hơn tại Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC hướng dẫn áp dụng Điêu 65 của Bộ luật hình sự về án treo như sau. “An treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp ching đổi với người phạm tôi bị phat tit không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người pham tôi và các tình tiết giảm nhe, xét thay không cân bắt họ phải chấp hành hình phat từ “ Ngoài các van bản hướng dẫn quy định về án treo thì còn các quan điểm khác về án treo như: Quan điểm thứ nhật: Theo tác giả Dinh V ăn Qué và theo giáo trình luật hình sx Việt Nam phân chung của Học viện Khoa học xã hội xuất bản năm 2014: “An treo là biển pháp min chấp hành lành phat tù có đâu kiện. được áp dung đối với người bị phat không quá barăm tit căn cứ vào nhấn thân của người phạm tôi và các tinh tiét giản nhẹ, nếu xét thấy không cân bat ho phát chấp hành hình phạt tì.
Quan điểm thử hai: Theo quan đểm của GS. TSKH Lê Văn Cảm: “An treo là biện pháp mién chấp hành hình phạt tì kèm theo một thời gian thứ thách nhất ảnh đã với người bị cot là có lễ trong việc thục hiện tôi pham khả có dit căn cử và những đâu kiện do pháp bật hinharqyanh’. Với những đặc điểm đặc trung của án treo như trên có thể đưa ra khái niệm về án treo như sau: Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có diéu liên, được áp cing đối với người bị kết án phạt tit không quá ba nằm, căn cứ vào nhân thân người phạm tội và tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án xét thấy họ có thé tự cải tạo, giáo duc tại dia phương dưới sự giám sát của cơ quan, tế chức xã hội 1.2 Đặc diém của ám treo Thứ nhất, án treo là biên pháp miễn chap hành hình phạt tù có điều kiện. Trong các loại hình phat được quy định tại Điêu 32 BLHS không có quy định án treo, như vậy án treo không phải là hình phạt mà chỉ là biện pháp miễn châp hành phat tù có điều kiện Điều đó có nghia là người được hưởng án treo là người phạm tội phải chịu hình phạt tủ có thời hạn nhưng được miễn việc chap hành hình phạt tủ tại trại giam và phải đáp ứng đủ nhũng điều kiện được pháp luật quy định do là về, hình phạt, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú, làm việc, người phạm tội có khả năng cải tạo, không gây nguy hiểm cho xã hội.
Thứ hai, án treo là biện pháp giáo duc trong trường hợp không cần cách ly người phạm tôi khỏi công đẳng khi bi xử phạt tu tương đối nhẹ, đồng thời là một chế định pháp lý độc lập thể hiên nguyên tắc nhân đạo và phương châm xử lý § trong chính sách hình sự của Nha nước ta nghiêm trị kết hop với khoan hông, trùng trị kết hop với giáo dục, thuyết phục. Thứ ba, người được hưởng án treo phải tự cải tạo đưới sự giám sát, giáo duc của cơ quan tô chức hoặc chính quyên dia phương trong một thời gian thử thách do tòa quyết định. Thời gian thử thách là khoảng thời gian nhật định do tòa án ân định để kiểm tra, đánh giá việc tư cải tạo của người pham tôi. Sau khi được hưởng án treo, người phạm tôi phải tự chứng minh được minh có khả năng tự cải tao bản.
thân trong một thời gian thử thách mà tòa án tuyên. Pháp luật quy định về thời gian thử thách đổi với người pham tôi từ một năm đến năm nắm. Tòa án xác định thời gian thử thách dựa trên cơ sở mức hình phạt mà người phạm tội phải chịu. Thứ tr, án treo không phải là một loại hình phat.
Vì vay bản chat của an treo là biện pháp không tước tự do, kết hợp đây đủ nguyên tắc trùng trị với khoan hồng, không cách ly ra khỏi xã hội nhưng vẫn đạt được mục đích cải tạo, giáo đục người phạm tội 1. Ý nghĩa của du treo Án treo có tác dụng khuyên khích người bị két án với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, tự lao động cải tạo để trở thành người lương thiện, đồng thời cảnh. cáo họ là nêu trong thời gian thử thách mà phạm tội mới do vô ý và bị phạt tù hoặc phạm tội mới do có ý thì họ phải chap hành hình phạt tù đã được hưởng án. treo của bản án trước.
Hơn nữa, án treo cũng là một trong những biểu hiện cu thé của phương châm trùng trị kết hợp với giáo dục và tỉnh nhân đạo xã hội chủ ng†ĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam. Ap dung đúng đắn các quy đính về án treo sẽ giúp cho người bị kết án không bi cách ly khỏi xã hội nhưng đồng thời cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên nêu áp dụng không đúng thì sẽ gây ảnh hưởng xâu về nhiêu mặt như là không phát huy được tác dụng tích cực của án treo là khuyên khích người tị kết án tự cải tạo đã trỡ thành người tốt, không thể hiện được tính công minh của pháp luật, không được nhân dân đồng tinh ủng hộ, không đề cao được tác dụng riêng và phòng ngừa chung 1. Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam 1.
Giai đoạn từ san Cách mang tháng Tám năm 1945 đếu trước khi ban hành Bộ luật hình sw nim 1985 : G nước ta, chế định án treo được quy định từ rat sớm, nó ra đời và gắn liên với sự ra đời của pháp luật hình sự Việt Nam. Ngày 13/9/1945 Chủ tịch Hồ Chi Minh đã ra sắc lệnh só 33/C/SL, tại Điều IV (án tu có thể tuyên) quy định: “L. do đáng khoan hồng vì it tuổi, vì biết hồi cdi, vì lâm lẫn v.thi Toà an có thé cho tội nhân được hướng an treo. Nghia là bản án làm tội tuyển lên, nhung không thi hành, Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tôi nhân không bị Toà án Quân sự làm tôi một lần nữa về việc mới thi bản án đã tuyên sẽ Ing đi, cot như là không có; Nếu trong hạn 5 năm ay, tôi nhân bị kết an một lần nữa trước Toà án Quân sự thì bản án treo sẽ dem thi hành”.
Xuất phát từ đường lỗi và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta là “trừng trí kết hợp với khoan hồng”, cùng với nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ ngiĩa, chê định án treo đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự nước ta ngay từ những ngày đâu dat nước ganh được độc lap. Tuy nhiên, trong một thoi kỳ dài với những khó khăn cả về mặt khách quan lẫn chủ quan chúng ta chưa có mét Bộ luật Hình sự hoàn chỉnh. Án treo cũng như các chế định khác của luật hình sự được quy đính chủ yêu trong các vấn bản pháp luật hình sự riêng lẻ, không có giá tri pháp lý cao, chủ yêu là các van bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và vì lễ đó ma án treo được hiểu khác nhau về bản chất của mình Đền khi Bộ luật Hình sự ra đời thì án treo lai được hiểu theo một nghĩa khác về mat bản chất so với trước đây. Tuy nhiên có thể thay quy định về án treo của Sắc lệnh 33C là chưa chit chẽ: Thứ nhất, đều kiện dé xét cho người pham tôi được hưởng án treo còn chưa được rõ ràng Việc quy định điều kiên cho hưởng án treo: “it tuổi, vì biết hồi quá vì lầm lẫn chưa rõ ràng dẫn dén việc hiểu và vận dụng gặp nhiều khó khan” thâm chi có nơi Tòa án con vận dung một cách tùy tiện, từ đó pháp luật không được nghiêm minh, công bằng pháp luật không đảm bảo, pháp chế bị xâm phạm.
10 Thứ hai, Sắc lệnh chưa quy đính rõ về cách tinh thời gian thử thách mà chỉ gới han mot khoảng thời gian là năm năm và chưa quy định giao người được hưởng án treo cho chủ thé nào quản lý, giám sát, theo déi và giáo dục.