Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật của tác giả Vũ Hoàng Hương Lan (Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Luật Hình sự, niên khóa 2008 – 2012; Người hướng dẫn khoa học: ThS. Võ Thị Kim Oanh) tiếp cận chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự.
Về bối cảnh và lý do chọn đề tài, nghiên cứu xuất phát từ chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, được cụ thể hóa thông qua hai văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng của Bộ Chính trị:
- Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
- Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Cả hai nghị quyết đều đặt mục tiêu củng cố hệ thống tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, pháp luật Việt Nam đã thiết lập cơ chế khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại nhằm dung hòa giữa lợi ích công và quyền tự định đoạt của cá nhân. Tuy nhiên, theo đánh giá của tác giả, các quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập, dẫn tới sai sót nghiệp vụ, nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc chưa bảo vệ thỏa đáng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện chế định này là đòi hỏi cấp thiết của tiến trình cải cách tư pháp.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:
- Nghiên cứu hệ thống quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn thực hiện chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại.
- Làm rõ các vướng mắc, khó khăn và xung đột pháp lý phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật.
- Đề xuất các kiến nghị lập pháp và giải pháp thực tiễn nhằm hoàn thiện quy định pháp luật tố tụng hình sự, nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền của người bị hại.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hệ thống lý luận chung, hệ thống pháp luật thực định Việt Nam (trọng tâm là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành), khảo sát thực trạng áp dụng pháp luật trong thời gian từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 có hiệu lực đến năm 2012, kết hợp tham chiếu pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Cộng hòa Liên bang Đức.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận về quyền con người trong tố tụng hình sự, bản chất của Nhà nước pháp quyền và mối quan hệ giữa quyền công tố của Nhà nước với quyền tự định đoạt ("quyền tư tố") của công dân. Khung pháp lý và các văn bản trực tiếp được tác giả trích dẫn, phân tích bao gồm:
- Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), đặc biệt là Điều 71 về quyền bất khả xâm phạm thân thể và bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.
- Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 (Điều 88) và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 51, Điều 100, Điều 104, Điều 105, Điều 107, Điều 111, Điều 164, Điều 169, Điều 326, Điều 328).
- Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
- Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 và Pháp lệnh số 09/2009/PL-UBTVQH12.
- Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 07/09/2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.
- Các văn bản lịch sử: Bộ luật Quốc triều Hình luật thời Hậu Lê, Bộ luật Tố tụng hình sự Bắc kỳ thời Pháp thuộc, Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950, Thông tư số 16-TATC ngày 27/09/1974 của Tòa án nhân dân tối cao.
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin (phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa duy vật lịch sử), đồng thời bám sát quan điểm chỉ đạo trong các nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật để làm rõ nội dung, cấu trúc và mối liên hệ giữa các điều luật.
- Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định giữa Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật tố tụng hình sự Trung Quốc và Đức).
- Phương pháp lịch sử - cụ thể nhằm theo dõi sự phát triển của chế định qua các thời kỳ lập pháp.
- Phương pháp thống kê và phân tích tài liệu thực tiễn từ các bài viết chuyên khảo, báo cáo ngành Tòa án và Viện kiểm sát.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hình sự và tố tụng hình sự, giáo trình luật của Trường Đại học Luật Hà Nội và Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, các từ điển luật học, cùng các bài viết nghiên cứu trên các ấn phẩm chuyên ngành như Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
Chương này làm rõ nền tảng lý luận, phân tích khái niệm và đặc trưng của chế định. Khởi tố vụ án hình sự được xác định là giai đoạn độc lập mở đầu quá trình tố tụng hình sự, làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và tạo cơ sở pháp lý cho các giai đoạn tiếp theo (điều tra, truy tố, xét xử).
Về khái niệm người bị hại, tác giả chỉ ra Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 giới hạn người bị hại là cá nhân (thể nhân). Khóa luận thảo luận hai luồng quan điểm và ủng hộ quan điểm cần mở rộng khái niệm này bao gồm cả cơ quan, tổ chức, pháp nhân. Tác giả lập luận rằng trong danh mục các tội khởi tố theo yêu cầu có Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171 Bộ luật Hình sự), mà chủ thể quyền sở hữu công nghiệp phần lớn là pháp nhân; việc xem pháp nhân chỉ là nguyên đơn dân sự làm hạn chế đáng kể quyền tố tụng của họ so với người bị hại.
Tác giả đưa ra định nghĩa: Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền sau khi xác định sự việc có dấu hiệu của một số tội phạm theo luật định, chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự sau khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.
Cơ sở thiết lập chế định được luận giải trên hai phương diện:
- Cơ sở lý luận: Tôn trọng quyền con người và phản ánh bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân; tạo giới hạn hợp lý cho việc thực hiện quyền công tố của Nhà nước.
- Cơ sở thực tiễn: Đối với các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm hoặc các quan hệ nội bộ mang tính riêng tư, thiệt hại tinh thần là vô hình và việc xét xử công khai có thể làm gia tăng chấn thương tâm lý cho nạn nhân; quy định này mở ra khả năng tự hòa giải, bồi thường thiệt hại và bảo vệ bí mật đời tư.
Chương I cũng làm rõ hai đặc điểm riêng biệt của chế định: (i) Phải hội đủ cả hai điều kiện: điều kiện cần là yêu cầu của người bị hại/người đại diện hợp pháp và điều kiện đủ là có dấu hiệu tội phạm; (ii) Thẩm quyền khởi tố bị giới hạn, các cơ quan được giao một số hoạt động điều tra theo Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự (Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển) không có thẩm quyền khởi tố các tội danh này do không thuộc lĩnh vực quản lý của họ.
Phần lịch sử và pháp luật so sánh được tác giả tổng hợp để chỉ ra xu hướng lập pháp:
| Tiêu chí |
Pháp luật Việt Nam (BLTTHS 2003) |
Pháp luật Trung Quốc |
Pháp luật CHLB Đức (Điều 374 BLTTHS Đức) |
| Phạm vi tội phạm |
11 tội danh quy định tại khoản 1 Điều 105 |
Các tội tư tố xâm phạm cá nhân, danh dự |
Hơn 20 tội danh (xâm phạm gia cư, danh dự, thương tích, cạnh tranh, SHTT...) |
| Thủ tục hòa giải |
Không quy định hòa giải bắt buộc trước khởi tố |
Đương sự được quyền tự hòa giải trước khi tuyên án |
Bắt buộc hòa giải tại Ban hòa giải Tòa án đối với một số tội trước khi thụ lý |
| Thời điểm rút yêu cầu/tư tố |
Trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm |
Tại bất kỳ thời điểm nào trước khi tuyên án |
Bất cứ giai đoạn nào; nếu đã thẩm vấn bị cáo thì phải có sự đồng ý của bị cáo |
Chương II: Pháp luật thực định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại và thực tiễn áp dụng
Chương II đi sâu phân tích 11 tội danh được liệt kê tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003:
- Khoản 1 Điều 104 BLHS (Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);
- Khoản 1 Điều 105 BLHS (Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh);
- Khoản 1 Điều 106 BLHS (Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng);
- Khoản 1 Điều 108 BLHS (Vô ý gây thương tích);
- Khoản 1 Điều 109 BLHS (Vô ý gây thương tích do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc hành chính);
- Khoản 1 Điều 111 BLHS (Hiếp dâm);
- Khoản 1 Điều 113 BLHS (Cưỡng dâm);
- Khoản 1 Điều 121 BLHS (Làm nhục người khác);
- Khoản 1 Điều 122 BLHS (Vu khống);
- Khoản 1 Điều 131 BLHS (Xâm phạm quyền tác giả - tác giả lưu ý từ ngày 01/01/2010 đã được phi tội phạm hóa một số hành vi);
- Khoản 1 Điều 171 BLHS (Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp).
Tác giả chỉ ra các điểm bất hợp lý trong kỹ thuật lập pháp khi phân định phạm vi tội phạm:
- Hành vi chống người thi hành công vụ (khoản 1 Điều 257 BLHS) không thuộc diện khởi tố theo yêu cầu, nhưng nếu hành vi chống người thi hành công vụ dẫn đến cố ý gây thương tích (thuộc điểm k khoản 1 Điều 104 BLHS) thì lại phải có yêu cầu của người bị hại mới được khởi tố.
- Một số tội ít nghiêm trọng xâm phạm tự do, dân chủ như Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật (Điều 123 BLHS) hay Tội xâm phạm chỗ ở của công dân (Điều 124 BLHS) lại không được khởi tố theo yêu cầu; trong khi Tội hiếp dâm (Điều 111) và Tội cưỡng dâm (Điều 113) vốn là tội nghiêm trọng lại thuộc diện này.
Về hình thức và nội dung yêu cầu khởi tố, Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định yêu cầu có thể bằng đơn hoặc lời khai trực tiếp lập thành biên bản. Tuy nhiên, do chưa có mẫu đơn thống nhất, người dân thường chỉ ghi "yêu cầu xử lý theo pháp luật", dẫn đến sự lúng túng cho cơ quan tố tụng. Tác giả khẳng định: người bị hại chỉ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự chứ không có quyền yêu cầu khởi tố bị can. Trong vụ án có đồng phạm, việc người bị hại chỉ yêu cầu xử lý một người không thể làm triệt tiêu trách nhiệm khởi tố toàn bộ đồng phạm của Cơ quan điều tra, nhằm tránh bỏ lọt tội phạm và đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật.
Về thời điểm và việc thay đổi quyết định khởi tố, tác giả phân tích sự thiếu vắng quy định điều chỉnh tình huống khi chuyển đổi tội danh: nếu tội danh mới thuộc trường hợp Điều 105 thì cơ quan tiến hành tố tụng không được tự ý khởi tố nếu chưa có yêu cầu; ngược lại, nếu chuyển từ tội danh thuộc Điều 105 sang tội danh thông thường thì quyền định đoạt của người bị hại chấm dứt.
Về rút yêu cầu khởi tố, quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 buộc cơ quan tố tụng đình chỉ vụ án nếu việc rút là tự nguyện. Khóa luận phân tích khó khăn thực tiễn trong việc chứng minh người bị hại rút đơn có bị ép buộc hay cưỡng bức hay không, cũng như nguyên tắc cấm yêu cầu khởi tố lại sau khi đã tự nguyện rút.
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu
Chương này xây dựng hệ thống giải pháp gắn với định hướng cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 48-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Các nhóm giải pháp gồm:
- Hoàn thiện các quy định pháp luật:
- Sửa đổi Điều 51 Bộ luật Tố tụng hình sự theo hướng công nhận pháp nhân, cơ quan, tổ chức là người bị hại khi quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị tội phạm trực tiếp xâm hại (đặc biệt trong các tội về sở hữu trí tuệ và xâm phạm danh dự, uy tín doanh nghiệp).
- Rà soát, điều chỉnh danh mục tội phạm tại khoản 1 Điều 105: loại trừ trường hợp cố ý gây thương tích cho người thi hành công vụ (điểm k khoản 1 Điều 104) ra khỏi diện chỉ khởi tố theo yêu cầu; cân nhắc bổ sung các tội phạm ít nghiêm trọng xâm phạm quyền tự do dân chủ (Điều 123, Điều 124 BLHS).
- Ban hành mẫu đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự chuẩn hóa; bổ sung quy định cụ thể về thời điểm phát sinh yêu cầu và cơ chế xử lý khi thay đổi tội danh/thay đổi quyết định khởi tố vụ án.
- Quy định chi tiết về tư cách, quyền hạn của người đại diện hợp pháp đối với người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, đảm bảo tương thích với quy định của pháp luật dân sự.
- Xây dựng quy trình chặt chẽ để kiểm tra, xác minh tính tự nguyện trong việc rút đơn yêu cầu khởi tố nhằm chống bức ép, trả thù.
- Các giải pháp bổ trợ: Nâng cao trình độ nghiệp vụ, đạo đức công vụ của cán bộ tư pháp (điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán); tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao nhận thức cho người dân về quyền tự định đoạt và hậu quả pháp lý khi yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu của khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:
- Khái quát hóa và xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại, xác định rõ bản chất đây là cơ chế trao quyền tự định đoạt có giới hạn cho nạn nhân.
- Phân định rõ ranh giới pháp lý giữa quyền yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại và thẩm quyền khởi tố bị can của Nhà nước, giải quyết triệt để tranh luận trong thực tiễn xử lý các vụ án đồng phạm khi nạn nhân chỉ chỉ định một người phạm tội.
- Chỉ ra 11 trường hợp cụ thể theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và phát hiện những điểm thiếu đồng bộ, mâu thuẫn giữa Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (chẳng hạn mâu thuẫn giữa Điều 257 và điểm k khoản 1 Điều 104; việc phi tội phạm hóa Điều 131 từ ngày 01/01/2010).
- Đề xuất luận cứ khoa học cho việc mở rộng chủ thể "người bị hại" sang pháp nhân, cơ quan, tổ chức, góp phần bổ sung lý luận tố tụng hình sự Việt Nam thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có những giới hạn nghiên cứu được ghi nhận:
- Phạm vi tư liệu thực tiễn và số liệu vụ án chưa được khảo sát, thống kê quy mô lớn trên toàn quốc mà chủ yếu trích xuất qua các vụ việc điển hình và các nghiên cứu chuyên khảo sẵn có.
- Khóa luận hoàn thành năm 2012, do đó hệ thống quy phạm được phân tích đặt trong khuôn khổ hiệu lực của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi năm 2009).
Hướng nghiên cứu tiếp theo từ văn bản này bao gồm:
- Tiếp tục theo dõi và nghiên cứu sự thay đổi của chế định khi Bộ luật Tố tụng hình sự và Bộ luật Hình sự được sửa đổi, bổ sung toàn diện trong tương lai.
- Nghiên cứu thực nghiệm cơ chế chứng minh hành vi cưỡng bức, ép buộc rút yêu cầu khởi tố để bảo vệ người bị hại trước áp lực ngoài tố tụng.
- Đánh giá tác động pháp lý và kinh tế khi luật hóa tư cách người bị hại là pháp nhân trong các tội phạm kinh tế và sở hữu trí tuệ.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích đối với:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự tham khảo làm tài liệu học tập, nghiên cứu các chuyên đề về giai đoạn khởi tố và địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng.
- Cán bộ thực tiễn tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án khi giải quyết các vấn đề nghiệp vụ liên quan đến việc xác định thẩm quyền khởi tố, tiếp nhận đơn yêu cầu, xử lý vụ án đồng phạm và thủ tục đình chỉ vụ án khi nạn nhân rút yêu cầu.
- Các phần có giá trị tham khảo cao nhất: Phân tích lý luận về cơ sở xác lập quyền tư tố, đối chiếu 11 tội danh tại Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, và phân tích pháp lý về sự khác biệt giữa khởi tố vụ án theo yêu cầu và khởi tố bị can.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo lập luận của tác giả, vì sao khái niệm "người bị hại" trong Bộ luật Tố tụng hình sự cần được mở rộng cho cả cơ quan, tổ chức và pháp nhân?
Tác giả chỉ ra rằng danh mục tội danh chỉ khởi tố theo yêu cầu có Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171 BLHS), mà chủ thể của các quyền này phần lớn là các doanh nghiệp, tổ chức. Hơn nữa, hành vi phạm tội có thể xâm hại cả uy tín, danh dự, tài sản của pháp nhân; nếu chỉ coi họ là "nguyên đơn dân sự" thì quyền tố tụng bị hạn chế so với người bị hại, tạo ra sự bất bình đẳng trước pháp luật.
2. Những cơ quan nào không có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003?
Căn cứ Điều 111 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển) chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án trong lĩnh vực quản lý chuyên môn của mình đối với một số tội nhất định, không bao gồm 11 tội danh quy định tại Điều 105. Ngoài ra, Cơ quan An ninh điều tra và Cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng không có thẩm quyền đối với các nhóm tội này.
3. Nếu trong vụ án có đồng phạm nhưng người bị hại chỉ làm đơn yêu cầu xử lý một người thì Cơ quan điều tra phải xử lý như thế nào?
Người bị hại chỉ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án chứ không có quyền yêu cầu khởi tố bị can. Khởi tố bị can là trách nhiệm của Cơ quan điều tra. Nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam là mọi đồng phạm đều phải chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm đã thực hiện, do đó Cơ quan điều tra có trách nhiệm khởi tố tất cả những người đồng phạm, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan muốn tha cho ai của người bị hại.
4. Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự có quyền yêu cầu khởi tố lại hay không?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định việc rút yêu cầu là trái với ý muốn của họ do bị ép buộc hoặc cưỡng bức.
5. Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131 Bộ luật Hình sự) có thay đổi pháp lý nào liên quan đến việc khởi tố theo yêu cầu của người bị hại?
Khóa luận nêu rõ: Kể từ ngày 01/01/2010, người thực hiện hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định cũ không còn bị xử lý về hình sự (do sửa đổi pháp luật hình sự), dẫn tới việc tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 131 BLHS không còn là trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại trên thực tế.
Kết luận
Khóa luận cử nhân luật của tác giả Vũ Hoàng Hương Lan đã nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận, lịch sử và quy định thực định của chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Công trình làm rõ bản chất pháp lý, phân định giữa quyền yêu cầu khởi tố vụ án của nạn nhân và quyền công tố, điều tra của Nhà nước, đồng thời chỉ ra những mâu thuẫn lập pháp trong việc xác định phạm vi 11 tội danh. Các kiến nghị sửa đổi quy định về tư cách người bị hại, chuẩn hóa biểu mẫu và bổ sung thủ tục thay đổi quyết định khởi tố mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam.