Chương I, II, III và V. Cụ thể, bao gồm: nhóm các quyền về chính trị; nhóm các quyền dân sự; nhóm các quyền kinh tế; nhóm các quyền về văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ; nhóm các quyền về xã hội và nhóm các quyền của những cá nhân không phải là công dân Việt Nam. Như vậy, về mặt hình thức, Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận một cách rõ ràng toàn diện tất cả các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa quan trọng của con người mà các công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đã ghi nhận. Các quyền con người quy định trong Hiến pháp đã không ngừng được cụ thể hóa trong các văn bản pháp quy của Việt Nam.
Theo số liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ tính từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã ban hành 13.000 văn bản pháp luật các loại, trong đó có hơn 40 Bộ luật và Luật, trên 120 Pháp lệnh, gần 850 văn bản của Chính phủ và trên 3000 văn bản pháp quy của các Bộ, ngành đã được thông qua và thực thi… Riêng trong năm 2004, Quốc hội đã thảo luận và thông qua 13 Luật và 8 Pháp lệnh trong các lĩnh vực khác nhau(10). Như vậy, Hiến pháp và pháp luật Việt Nam đã có rất nhiều quy định để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó đặc biệt phải kể việc quy định dành cho người người bị hại có quyền yêu cầu khởi tố vụ án với một số trường hợp nhất định. Điều này đã chứng tỏ những cố gắng rất lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân trong xã hội. - Chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của ngƣời bị hại đƣợc xây dựng trên cơ sở bản chất Nhà nƣớc.vn/vi/mofa/ctc_quocte/ptklk/nr040819162124/ns07 0731093608/ (ngày 10/07/2012, 15h30).
20 Nhà nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ. Một nơi mà các quyền con người không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật nhà nước mà còn được bảo vệ trong thực tế. Quyền con người hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội trong đó có lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự.
Có thể nói, quyền con người trong lĩnh vực này dễ bị xâm phạm, bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Bởi lẽ, với việc Nhà nước xác định thế nào là tội phạm, quy định về trình tự, thủ tục đưa một người ra xử lý trước pháp luật và áp dụng các biện pháp cưỡng chế, hình phạt dành cho họ luôn thể hiện rõ nét tính quyền lực Nhà nước. Chính vì vậy, lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự trong bất cứ Nhà nước nào đều được xếp vào “nhóm nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người. Chính vì những lí do trên, pháp luật đã đưa ra nhiều quy định bảo đảm mọi công dân trong xã hội không chỉ các quyền tự do dân chủ mà còn “có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm”(11).
Riêng với người bị hại, họ là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do hành vi phạm tội gây ra, quyền lợi của họ bị xâm hại, vì vậy Nhà nước đã quy định cho họ có một quyền đặc biệt, đó là quyền được yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Quy định này nhằm mục đích tạo điều kiện cho người bị hại được cân nhắc, tính toán việc khởi tố vụ án có gây bất lợi cho họ hay không để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, những trường hợp người bị hại được quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự cũng chỉ nằm trong giới hạn mà Nhà nước và xã hội chấp nhận được nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời, việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Trước khi có BLTTHS năm 1988, người bị hại không được pháp luật quy định có quyền yêu cầu khởi tố vụ án mà thậm chí trong nhiều trường hợp người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hoặc miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt một cách có tình, có lý cho (11).
Điều 71 Hiến pháp Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001). 21 người phạm tội cũng không được Toà án chấp nhận. Quan niệm phổ biến lúc đó không chấp nhận việc khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại bởi: “Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, trong đó với tư cách là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra”(12). Bên cạnh đó, các nhà làm luật cũng cho rằng, những vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại là các vụ án tư tố, tức là pháp luật sẽ dành cho những người bị hại hoặc người thân thích của họ sử dụng để khởi kiện, khởi tố chống lại người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, hành vi phạm tội xâm phạm các quyền và lợi ích cá nhân(13).
Như vậy, quyền yêu cầu khởi tố của người bị hại sẽ mâu thuẫn với quyền công tố của Nhà nước. Tuy nhiên, khi nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số nước đặc biệt là pháp luật tố tụng của Liên Xô, các nhà lập pháp cũng nhận thấy “quyền tư tố” của người bị hại được xã hội chấp nhận khi nó ở trong giới hạn nhất định và không làm ảnh hưởng đến quyền công tố của Nhà nước. Do đó, BLTTHS năm 1988 đã chính thức ghi nhận chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại và tiếp tục được BLTTHS 2003 ghi nhận đã cho thấy sự cần thiết của chế định này trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự của nước ta.2 Cơ sở thực tiễn Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng có nhiệm vụ quan trọng, có tính chất quyết định đến các hoạt động, các giai đoạn khác của quá trình tố tụng. Việc khởi tố có kịp thời, đúng người, đúng pháp luật thì mới bảo vệ được lợi ích của Nhà nước, bảo vệ người bị tội phạm xâm hại và giúp cho các hoạt động tố tụng tiếp theo được tiến hành theo đúng hướng.
Tuy nhiên, không phải việc cơ quan có thẩm quyền phát hiện và khởi tố vụ án là đã bảo vệ quyền và lợi ích của người bị hại một cách tốt nhất. Trần Quang Tiệp, Một số vấn đề lý luận về khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại, Tạp chí kiểm sát, tháng 1/2006, Tr. Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội, Bàn về quyền công tố, Hà Nội 2003, Tr. 22 - Đối với những thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra thì có thể khôi phục lại hoặc hoàn trả bằng tiền nhưng còn đối với thiệt hại về tinh thần như danh dự, nhân phẩm… là những thiệt hại không thể cân, đo, tính toán ra những con số cụ thể được, là những tổn thương vô hình, những nỗi sợ hãi, ám ảnh hoặc sự suy sụp tinh thần, tình cảm mà người bị hại không muốn nhắc lại và càng không muốn bị công khai.
Những tổn thương đó ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý người bị xâm hại và có thể khiến cho họ xa lánh mọi người hoặc nguy hiểm hơn là tìm đến cái chết. Đối với những trường hợp này, cách tốt nhất là nên cho người bị hại có thời gian suy nghĩ và quyết định việc có nên yêu cầu khởi tố vụ án hay không. Nếu người bị hại cảm thấy bị tổn thương và mặc cảm quá lớn, muốn giữ kín những gì đã xảy ra thì pháp luật nên để cho người bị hại và người gây thiệt hại chủ động giải quyết riêng với nhau. Trong trường hợp người bị hại thật sự muốn kẻ gây thiệt hại phải bị pháp luật trừng phạt thích đáng thì lúc này họ sẽ yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích cho họ.
- Theo quy định tại Điều 8 BLHS thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Do đó việc Nhà nước tiến hành khởi tố vụ án hình sự đối với những người có hành vi trên là việc làm tất yếu để bảo vệ lợi ích Nhà nước và các cá nhân, tổ chức trong xã hội. Tuy nhiên với những tội phạm xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, quyền tự do, dân chủ của công dân thì thiệt hại thường ít xảy ra với Nhà nước (thậm chí không có) nhưng người phải gánh chịu những hậu quả tinh thần nặng nề nhất lại chính là người bị hại. Do đó nếu Nhà nước tiến hành khởi tố vụ án và xét xử công khai những vấn đề cá nhân riêng tư, nhạy cảm của người bị hại để bảo vệ những lợi ích kinh tế không lớn thì liệu có được xem là bảo vệ người bị hại hay không? Lúc này ý nghĩa kinh tế còn phù hợp hay không? Do đó đối với những tội phạm 23 như vậy việc quyết định khởi tố vụ án hay không nên để cho người bị hại – người bị chính tội phạm xâm hại tự xem xét và quyết định.