Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu của tố tụng hình sự, xác định hành vi xảy ra trên thực tế có dấu hiệu tội phạm hay không để làm căn cứ ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Về nguyên tắc chung, việc phát hiện tội phạm và khởi tố thuộc về trách nhiệm công quyền (quyền công tố của Nhà nước), không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào. Tuy nhiên, đối với một số nhóm tội phạm nhất định, pháp luật tố tụng hình sự thiết lập cơ chế đặc thù cho phép bị hại được quyền lựa chọn yêu cầu hoặc không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Xuất phát từ quyền và lợi ích hợp pháp của nạn nhân, trong những trường hợp tính chất nguy hiểm cho xã hội không lớn hoặc thuộc các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm, việc khởi tố cứng nhắc theo thủ tục chung có thể không mang lại lợi ích xã hội đáng kể, thậm chí còn gây tổn thương thêm về mặt tâm lý, danh dự cho nạn nhân và phá vỡ cơ hội hòa giải giữa các bên.

Dù có ý nghĩa quan trọng, việc nhận thức và áp dụng các quy định pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong thời gian qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập về phạm vi tội danh, chủ thể thực hiện quyền, cách thức thực hiện cũng như hậu quả pháp lý của việc yêu cầu hoặc rút yêu cầu. Thực tiễn điều tra cho thấy nhiều vụ việc bị hại không hợp tác giám định thương tích (đặc biệt trong các vụ án cố ý gây thương tích, hiếp dâm), dẫn đến việc cơ quan điều tra rơi vào tình thế lúng túng khi không đủ căn cứ để khởi tố cũng như không thể ra quyết định không khởi tố. Trước yêu cầu cải cách tư pháp nhằm bảo đảm quyền con người và đa dạng hóa các biện pháp xử lý tội phạm, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Văn Dũng đi sâu nghiên cứu đề tài này.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao chất lượng thi hành trong thực tiễn tố tụng hình sự Việt Nam. Để đạt được mục đích đó, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
  2. Làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại.
  3. Đánh giá thực trạng thi hành các quy định pháp luật từ thực tiễn và đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm áp dụng thống nhất, đúng đắn quy định này.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay. Phạm vi nghiên cứu về nội dung tập trung vào chế định khởi tố theo yêu cầu của bị hại; phạm vi về không gian và thời gian khảo sát là hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) cùng các văn bản hướng dẫn liên quan, với số liệu thực tiễn được thu thập trong phạm vi cả nước trong giai đoạn 03 năm từ năm 2021 đến hết năm 2023.

Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, khóa luận dựa trên sự phân định và kết hợp hài hòa giữa quyền công tố của Nhà nước và quyền "tư tố" của cá nhân (hoạt động buộc tội do tư nhân thực hiện trong giới hạn luật định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà không làm triệt tiêu quyền công tố). Đề tài tiếp cận các nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự và định hướng mở rộng dân chủ hóa nền tư pháp sau thời kỳ đổi mới năm 1986.

Về cơ sở pháp lý, công trình căn cứ trực tiếp vào các văn bản pháp luật thực định:

  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2021 bởi Luật số 02/2021/QH15), trọng tâm là Điều 155, Điều 157, Điều 158, Điều 230, Điều 248, Điều 280, Điều 282, Điều 320 và Điều 326.
  • Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Bộ luật Dân sự năm 2015 (cụ thể là Điều 651 về các hàng thừa kế dùng để xác định tư cách người đại diện hợp pháp của bị hại).
  • Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Công văn hướng dẫn số 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao về việc người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu.

Phương pháp luận của khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chính sách hình sự. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, diễn dịch và quy nạp. Nguồn dữ liệu thực nghiệm được tổng hợp từ Báo cáo công tác của ngành Kiểm sát nhân dân các năm 2021, 2022, 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao; số liệu thống kê tội phạm của Cục Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin (VKSNDTC); cùng các bản án hình sự sơ thẩm thực tế được công bố công khai của Tòa án nhân dân các cấp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất pháp lý, lịch sử hình thành và toàn bộ khuôn khổ quy định thực định của chế định khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Tác giả chỉ rõ khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn đầu tiên, có tính độc lập tương đối, trong đó cơ quan có thẩm quyền xác định sự việc xảy ra có hay không có hành vi phạm tội để quyết định việc khởi tố. Đối với khái niệm bị hại, trước đây luật chỉ công nhận thể nhân; từ Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khái niệm bị hại tại Điều 62 được mở rộng bao gồm cả cá nhân và cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021 bãi bỏ trường hợp áp dụng khởi tố theo yêu cầu đối với tội Xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự), đối tượng bị hại trong chế định này trên thực tế chỉ còn giới hạn là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, uy tín.

Về phạm vi áp dụng, theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (đã sửa đổi năm 2021), chỉ có 09 tội phạm quy định tại khoản 1 của các điều luật cụ thể thuộc Bộ luật Hình sự được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại:

  • Khoản 1 Điều 134: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng có các tình tiết định khung tăng nặng như dùng hung khí nguy hiểm, axit, đối với trẻ em, người già yếu...).
  • Khoản 1 Điều 135: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60%).
  • Khoản 1 Điều 136: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60%).
  • Khoản 1 Điều 138: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60%).
  • Khoản 1 Điều 139: Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (tỷ lệ tổn thương từ 31% đến 60%).
  • Khoản 1 Điều 141: Tội hiếp dâm (hành vi dùng vũ lực, đe dọa hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ để giao cấu hoặc quan hệ tình dục trái ý muốn). Đây là tội phạm nghiêm trọng có mức độ nguy hiểm cao nhất trong danh mục.
  • Khoản 1 Điều 143: Tội cưỡng dâm (dùng thủ đoạn khiến người lệ thuộc hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng quan hệ tình dục).
  • Khoản 1 Điều 155: Tội làm nhục người khác (xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự).
  • Khoản 1 Điều 156: Tội vu khống (bịa đặt, loan truyền điều sai sự thật hoặc bịa đặt người khác phạm tội để tố cáo).

Về chủ thể có quyền, quyền yêu cầu khởi tố thuộc về bị hại hoặc người đại diện của bị hại trong các trường hợp: bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, hoặc đã chết. Yêu cầu của người đại diện có giá trị độc lập và không phụ thuộc vào ý chí của bị hại. Về hình thức, Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT quy định yêu cầu phải thể hiện bằng văn bản có chữ ký/điểm chỉ, hoặc nếu đến trình bày trực tiếp thì cơ quan điều tra/Viện kiểm sát phải lập biên bản.

Về hậu quả pháp lý, nếu có yêu cầu hợp lệ và đủ căn cứ dấu hiệu tội phạm, vụ án được khởi tố và tiến hành điều tra theo thủ tục chung; tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại hoặc người đại diện có quyền trình bày lời buộc tội sau khi Kiểm sát viên đọc luận tội. Nếu không có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định không khởi tố (khoản 8 Điều 157), hủy bỏ quyết định khởi tố (khoản 1 Điều 158), đình chỉ điều tra (khoản 1 Điều 230) hoặc Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án (khoản 1 Điều 248). Trường hợp người đã yêu cầu tự nguyện rút yêu cầu khởi tố, vụ án bắt buộc phải được đình chỉ (trừ trường hợp rút đơn do bị cưỡng bức, ép buộc). Khi đã rút yêu cầu, bị hại không có quyền yêu cầu lại và phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chương 2: Thực tiễn thi hành quy định của pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án theo yêu cầu của bị hại và các giải pháp nâng cao chất lượng thi hành

Chương 2 tổng kết thực tiễn áp dụng trong 03 năm (2021 - 2023) trên phạm vi cả nước. Tác giả đối chiếu tổng số vụ án hình sự được khởi tố với số vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại qua báo cáo thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao:

Năm Tổng số vụ án hình sự khởi tố Số vụ án khởi tố theo yêu cầu của bị hại Tỷ lệ so với tổng số vụ án khởi tố (%)
2021 85.800 2.856 3,33
2022 81.157 2.973 3,64
2023 98.157 3.393 3,45
Tổng cộng 265.114 8.622 3,47 (Trung bình)

Khóa luận đánh giá các kết quả đạt được: các cơ quan tiến hành tố tụng nhìn chung áp dụng đúng trình tự, xác định đúng thẩm quyền và tội danh; trình độ cán bộ tư pháp được củng cố. Tính tích cực được minh chứng qua Bản án số 298/2023/HSST ngày 15/11/2023 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, TP. Hà Nội: Bùi Tiến T dùng dao phóng lợn đâm anh Vi Long Q (thương tích 6%) và chém chị Vũ Thị M (thương tích 4%). Nhờ sự hợp tác tích cực của người bị hại trong công tác giám định tỷ lệ thương tật, cơ quan tố tụng đã nhanh chóng truy tố và xét xử bị cáo T 10 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Bên cạnh mặt tích cực, chương này phân tích sâu sắc các hạn chế, vướng mắc qua các vụ án thực tế:

  1. Bị hại không hợp tác đi giám định thương tích: Dẫn đến việc cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý hình sự về tội cố ý gây thương tích. Minh chứng bằng Bản án số 188/2023/HSST ngày 09/5/2023 của TAND TP. Hà Nội: Bị cáo Đặng Bá Thịnh dùng dao chém Tạ Ngọc Sình (tổn hại 77% sức khỏe) và Phan Lưu Tuân (tổn hại 10% sức khỏe). Dù Sình và Tuân trước đó có dùng kiếm và tuýp sắt tấn công làm Thịnh bị thương tích ở cánh tay và bàn tay, nhưng Thịnh bỏ trốn và sau đó kiên quyết từ chối giám định thương tích. CQĐT không thể khởi tố Sình và Tuân về tội cố ý gây thương tích mà chỉ có thể xử lý về tội Gây rối trật tự công cộng.
  2. Phạm vi tội danh còn hẹp đối với tội phạm có lỗi vô ý hoặc xâm phạm tài sản người thân: Điển hình là vụ tai nạn giao thông ngày 28/03/2022 tại Km 456+674 Quốc lộ 1A (Nghệ An), lái xe ô tô Nguyễn Văn A va chạm với mô tô do ông Trần Văn B điều khiển (ông B tử vong, kết quả giám định nồng độ cồn trong máu của ông B là 39,9 mmol/L). Dù A đã tích cực bồi thường, gia đình nạn nhân B tự nguyện hòa giải và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan điều tra vẫn buộc phải khởi tố vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự do điều luật không thuộc diện khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Tương tự, Bản án số 218/2021/HSST ngày 07/09/2021 của TAND huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế: Mai Văn Dũng lén trộm 48 triệu đồng của mẹ ruột cất giữ trong tủ. Dù sau đó Dũng tự thú, trả lại tiền và mẹ đã nộp đơn xin bãi nại, Tòa án vẫn phải tuyên phạt Dũng 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 173) do luật định không cho phép đình chỉ theo ý chí của người thân bị hại.
  3. Vướng mắc về thời hạn và hình thức yêu cầu: Điều 155 không quy định thời hạn bị hại được thực hiện quyền yêu cầu, trong khi thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm chỉ từ 20 ngày đến tối đa 04 tháng. Nhiều trường hợp quá thời hạn giải quyết nhưng bị hại không nộp đơn cũng không từ chối, khiến cơ quan điều tra bị quá hạn luật định. Về hình thức, việc chấp nhận biên bản ghi lời khai có nhược điểm dễ bị làm sai lệch hoặc bị hại phủ nhận sau đó.
  4. Bất cập về quy định "không yêu cầu" và "rút yêu cầu": Khoản 8 Điều 157 dùng từ "hoặc" ("bị hại hoặc người đại diện không yêu cầu") dẫn đến xung đột khi có nhiều bị hại/người đại diện mà ý kiến không đồng nhất. Về án phí, khoản 3 Điều 136 buộc người bị hại phải chịu án phí sơ thẩm khi vụ án đình chỉ do rút yêu cầu là không hợp lý trong trường hợp người đại diện tự ý nộp đơn rồi tự ý rút mà không có sự đồng thuận của bị hại (hoặc trường hợp bị hại đã chết).

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã hệ thống hóa và công bố bộ số liệu toàn quốc về các vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại giai đoạn 2021 - 2023, chỉ ra tỷ lệ trung bình chiếm 3,47% tổng số vụ án hình sự được khởi tố hàng năm. Công trình đã phân loại toàn diện 09 tội danh áp dụng theo luật định hiện hành và chỉ ra các kẽ hở pháp lý phát sinh từ thực tiễn tranh tụng, điều tra.

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đề xuất các định hướng cụ thể:

  • Hoàn thiện phạm vi tội danh: Đề xuất nghiên cứu mở rộng trường hợp khởi tố theo yêu cầu của bị hại đối với khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ) trong các trường hợp lỗi vô ý hỗn hợp và các bên đã đạt được thỏa thuận bồi thường, hòa giải; xem xét bổ sung tội Trộm cắp tài sản (khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự) khi hành vi xảy ra giữa các chủ thể có quan hệ thân thích ruột thịt trong gia đình.
  • Sửa đổi các điều khoản của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Sửa đổi khoản 8 Điều 157 theo hướng thay từ "hoặc" bằng từ "và": chỉ ra quyết định không khởi tố khi "bị hại và người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố".
    • Bổ sung quy định giới hạn thời hạn bị hại được quyền đưa ra yêu cầu khởi tố tương thích với thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm.
    • Luật hóa quy định bắt buộc yêu cầu khởi tố phải lập thành đơn bằng văn bản, cơ quan tố tụng ban hành biểu mẫu thống nhất, chỉ chấp nhận biên bản trực tiếp trong trường hợp bất khả kháng.
    • Sửa đổi khoản 3 Điều 136 theo hướng: nếu người đại diện là người yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố thì người đại diện phải chịu án phí, thay vì áp đặt tự động nghĩa vụ chịu án phí lên người bị hại.
    • Bổ sung quy trình cụ thể cho phép Tòa án đình chỉ vụ án tại phiên tòa sơ thẩm khi bị hại rút đơn yêu cầu, tránh việc phải trả hồ sơ điều tra bổ sung kéo dài tố tụng.

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chế định khởi tố theo yêu cầu của bị hại được thực hiện sau khi Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021 chính thức có hiệu lực (ngày 01/12/2021). Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ thực chứng và giải pháp lập pháp trực tiếp cho các nhà làm luật và các cơ quan tiến hành tố tụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định một số hạn chế khách quan bắt nguồn từ thực tiễn thống kê tư pháp:

  • Không thể thu thập được số liệu thống kê về các vụ việc có dấu hiệu tội phạm nhưng bị hại và người thực hiện hành vi nguy hiểm đã tự thỏa thuận, bồi thường mà không trình báo cho cơ quan công an hoặc chính quyền cơ sở.
  • Thiếu vắng số liệu thống kê chính thức về các trường hợp bị hại rút yêu cầu khởi tố sau đó lại có đơn yêu cầu lại, do đây không phải là chỉ tiêu nghiệp vụ trong hệ thống báo cáo ngành kiểm sát.
  • Phạm vi khảo sát thực tiễn mới tập trung chủ yếu vào số liệu tổng hợp toàn quốc giai đoạn 2021 - 2023, chưa đào sâu đối chiếu thực tiễn thi hành giữa từng địa phương đặc thù (khu vực miền núi, biên giới so với đô thị lớn).

Về hướng nghiên cứu tiếp, công trình gợi mở việc nghiên cứu hoàn thiện cơ chế tố tụng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm và giám đốc thẩm khi phát sinh việc rút đơn yêu cầu khởi tố; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về quy chế chứng minh tình trạng bị ép buộc, cưỡng bức khi rút đơn để bảo đảm việc đình chỉ vụ án hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện của bị hại.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự: Tài liệu cung cấp bức tranh tổng thể từ lý luận đến thực tiễn, đặc biệt là hệ thống số liệu thống kê tư pháp 3 năm (2021 - 2023) và việc phân tích sự thay đổi thẩm quyền khi Luật sửa đổi năm 2021 loại bỏ tội danh xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp.
  • Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Luật sư: Khóa luận là tài liệu tham khảo bổ ích trong việc giải quyết các bài toán hóc búa trên thực tế, bao gồm: biện pháp xử lý khi bị hại từ chối giám định thương tích, cách xác định người đại diện theo Điều 651 Bộ luật Dân sự, cách phân định hậu quả pháp lý của biên bản ghi lời khai so với đơn yêu cầu, và quy trình xử lý đơn rút yêu cầu khởi tố tại phiên tòa sơ thẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định hiện hành, có bao nhiêu tội phạm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại? Hiện nay có 09 tội danh thuộc trường hợp này, quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), gồm khoản 1 của các Điều: 134, 135, 136, 138, 139 (các tội danh liên quan đến cố ý và vô ý gây thương tích), 141 (Hiếp dâm), 143 (Cưỡng dâm), 155 (Làm nhục người khác) và 156 (Vu khống) thuộc Bộ luật Hình sự năm 2015. Trường hợp tại khoản 1 Điều 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) đã chính thức bị bãi bỏ từ ngày 01/12/2021.

2. Tỷ lệ các vụ án hình sự khởi tố theo yêu cầu của bị hại chiếm bao nhiêu phần trăm trong thực tiễn xét xử tại Việt Nam? Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao được khóa luận trích dẫn, trong giai đoạn 2021 - 2023, tỷ lệ này dao động từ 3,33% đến 3,64% mỗi năm, đạt mức trung bình 3,47% trên tổng số vụ án hình sự được khởi tố trên toàn quốc (tổng cộng 8.622 vụ án trên 265.114 vụ án khởi tố trong 3 năm).

3. Khi bị hại từ chối giám định thương tật trong vụ án cố ý gây thương tích thì cơ quan điều tra xử lý như thế nào? Do hành vi cố ý gây thương tích tại khoản 1 Điều 134 BLHS đòi hỏi tỷ lệ thương tật cụ thể (từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% có tình tiết định khung), việc bị hại từ chối đi giám định thương tích khiến cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định hậu quả phạm tội để khởi tố tội Cố ý gây thương tích. Thực tiễn vụ án tại Bản án số 188/2023/HSST của TAND TP. Hà Nội cho thấy CQĐT chỉ có thể xử lý hành vi của đối tượng về tội Gây rối trật tự công cộng hoặc xử phạt vi phạm hành chính.

4. Tại sao tác giả cho rằng quy định về nghĩa vụ chịu án phí tại khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự là chưa hợp lý? Khoản 3 Điều 136 quy định người bị hại phải trả án phí sơ thẩm khi vụ án bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu. Tác giả chỉ ra điểm bất hợp lý: quy định này chỉ đúng khi bị hại là người trực tiếp yêu cầu và rút đơn; còn trong trường hợp người đại diện hợp pháp đứng ra yêu cầu và rút yêu cầu độc lập (khi bị hại chưa thành niên, mắc nhược điểm thể chất/tâm thần hoặc đã chết), việc bắt buộc bị hại chịu án phí là không công bằng. Do đó, luật cần sửa đổi theo hướng ai là người yêu cầu và rút yêu cầu thì người đó chịu án phí.

5. Điểm bất cập lớn nhất giữa quyền yêu cầu khởi tố của bị hại và thời hạn tố tụng của cơ quan điều tra là gì? Điều 155 không ấn định thời hạn bị hại phải đưa ra yêu cầu khởi tố, tạo ra khoảng trống pháp lý khiến bị hại có thể yêu cầu bất cứ lúc nào. Trong khi đó, thời hạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm của cơ quan điều tra bị khống chế nghiêm ngặt từ 20 ngày đến tối đa 04 tháng. Nếu bị hại chần chừ, không nộp đơn nhưng cũng không từ chối, cơ quan điều tra không thể khởi tố (thiếu yêu cầu) cũng không thể ra quyết định không khởi tố (thiếu căn cứ), dẫn đến nguy cơ bắt buộc phải vi phạm thời hạn giải quyết tin báo.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Văn Dũng đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận, nội dung các quy định thực định và thực trạng áp dụng chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam giai đoạn 2021 - 2023. Thông qua việc phân tích số liệu thống kê của ngành kiểm sát và các vụ án hình sự sơ thẩm điển hình, công trình chỉ rõ những bất cập về giới hạn phạm vi tội danh, thời hạn yêu cầu, hình thức văn bản và cơ chế chịu án phí khi rút đơn. Hệ thống kiến nghị sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và mở rộng diện tội danh do tác giả đề xuất mang tính khả thi cao, góp phần tích cực vào tiến trình cải cách tư pháp và nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người ở nước ta.