Chương 1 MOT SỐ VAN DE LY LUẬN CO BAN VE CHE ĐỘ TÀI SAN GIỮA VQ VA CHONG CÓ YEU T6 NƯỚC NGOÀI 111. Khai quát về chế độ tài sản giữa vợ chong 1. Khái niệm và đặc điểm của chế độ tài sản giữa vợ và chong “Chế độ tai sản giữa vợ và chồng” lả khái niệm không mới và được sit dụng thường xuyên trong lĩnh vực hôn nhân gia đính. Tuy nhiến, pháp luật hiện hành cũng chưa đưa ra một khái niệm cụ thể vẻ chế độ tải sin giữa vợ chẳng Luật HN & GB năm 2014 mới chỉ đưa ra khái niém vẻ chế độ hôn nhân và gia đính như sau: là toàn bô những quy định của pháp luật về kết hôn, ly hôn; quyền và nghĩa vụ giữa vợ vả chồng, giữa cha me vả con, giữa các.
thành viên khác trong gia đỉnh, cấp dưỡng, xác đính cha, mẹ, con; quan hệ ‘hén nhân và gia đính có yếu tổ nước ngoài va những van dé khác liên quan. đến hôn nhân và gia đính Co thể thấy, ché độ tai sản giữa vo và chồng cũng là một phan của chế độ hôn nhân và gia đính. Trên cơ sở quy định của Luật HN & GB năm 2014 cũng =như pháp luật co liên quan, có thể hiéu một cách cơ bản: Chế độ tai sin giữa vo và chong là tong hợp các quy phạmpháp luật điều chinh về tài sản của vợ. chong, bao gôm các quy định vê căn cứ xác lập tài sản, quyén và nghia vụ.
của vợ chong đối với tài sản clung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ và chông theo quy định của pháp Ina? Chế đô tai sin giữa vợ và chồng được quy định trong các văn bản pháp uất là một tắt yếu, khách quan nhằm điểu chỉnh quan hệ tải sản của vợ chống Căn cứ BLDS năm 2015, Luật HN & GB năm 2014 thi chế độ tai sẵn giữa vợ ˆ Bụo ain 3 Bud Laie EM & GD nin 2016 'Ngyễn Vin C G009), Cl te sci ive chẳng eo Lat HOU GP Việt New, Lận i Tin sĩ "học, Tường Đa học Luật Ha Nội 14 i chẳng cỏ thé phân chia lam hai loại: chế độ tài sn theo théa thuận va chế độ tải sẵn theo luật định. Chế đô tai sin giữa vợ vả chẳng theo thỏa thuận, xét vẻ băn chất pháp lý, đây là một loại hợp đồng thỏa thuân. Hop đồng thỏa thuận nảy dựa trên nguyên tắc tự do va tự nguyện giữa hai chủ thể la vợ va chồng. Vợ chẳng có thể tự thỏa thuận về việc xác lập, thực hiện các quyển, nghiia vụ đối với tải sản.
của họ Chế độ tải sản giữa vo và chẳng theo luật định là chế độ tài sẵn trái ngược với chế đô tai sẵn theo thöa thuân Khi đó, vợ chồng không có théa thuận về việc xác lập và thực hiện quyển, nghĩa vụ đối với tài sản của họ Trong trường hợp nảy, việc giải quyết quan hệ tai sản của họ hoàn toàn tuân. theo pháp luật ‘Dac điểm của chế độ tài sản giữa vợ chong Bản chất của chế độ tài sản giữa vợ va chẳng đó chính là chế độ sỡ hữu. đổi với tai sin của vo chồng. Chính vi thé, vợ, chong vừa là chủ thể trong quan hệ dân sự khi thực hiện các quyển sở hữu của minh khi tham gia các giao dịch dan sự, đồng thời, vợ, chong cũng là chủ thé trong quan hệ hôn nhân và gia đính.
Do đó, chế đô tài sản giữa vợ chẳng mang những đặc điểm đặc trưng cơ bản sau: _Một là, sét trên khía cạnh chủ thé của quan hệ sở hữu trong chế độ tải sản nảy. Để tré thành chủ thể của quan hệ sở hữu trong chế độ tải sin giữa vợ vả chồng, các chủ thể trước tiên phải có day đủ năng lực trong quan hệ pháp luật dân sự Bên canh đó, các chủ thể phải tuân thủ và đáp ting được các điều kiện về kết hôn theo quy định của pháp Luật HN & GB, tức là các bên chit thể phải có quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cach là vợ chẳng của nhau. cũng chính là đặc trưng mã chỉ tn tai trong loại chế độ tai sẵn này. 2 ‘Hat là, xét trên khia cạnh mục dich của chế độ tài sân giữa vợ chồng, pháp luật quy định chế độ tải sản giữa vợ và chẳng xuất phat từ muc dich tao.
điểu kiên cho gia đính tén tai va phát triển. Bởi lế, gia đính cỏthé tổn tại và phát triển cân phải có các điều kiên vật chất, cơ sở kinh tế của gia đỉnh, nuôi sống gia định”. B én canh đó, những quy định của pháp luật về chế độ tài sin giữa vo và chong la cơ sở để dam bão quyển lợi của gia đình, trong đó bao. gồm cả loi ích cả nhân của cả vợ vả chẳng.
Qua đó, tao điều kiện để vợ chồng, có thể thực hiện các quyền va nghĩa vụ của mình đổi với tải sẵn của vợ chẳng Ba là, ché độ tai sảngiữa vợ và chồng có căn cứ ác lập, chấm dứt phụ. thuộc vao sự phát sinh, chấm đứt cia quan hệ hôn nhân. Nói một cách khác, chế độ tài sản giữa vo và chẳng thường chi tốn tai trong thời ky hôn nhân" Do đó, tai sản chung của vơ chẳng chỉ có thé phát sinh khi quan hệ hôn nhân. được sac lập và chm đút khi một bên vợ hoặc chẳng chết trước hoặc vợ chẳng ly hồn.
Bén là, dưới gic đô chia chế đô tai sẵn giữa vợ chẳng thành 2 loại là tài sản chung va tải sản riêng thì cũng có những đặc điểm đặc thù. Đồi với tải sẵn chung, khí tham gia vào các giao dich dân sự, kinh tế thi bắt buộc vợ chồng phải zuất phát từlợi ích chung của gia đính Đôi với tai sin riêng, quyển định đoạt phụ thuộc vào ý chỉ của người có tài sản không cân phải xuất phát từ lợi ích chung của vợ chẳng hay lợi ích cia gia đình Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, tải sản riêng được coi lả nguồn sông duy nhất của cả gia inh thi khi định đoạt tài sản nay phải được sự đổngÿ của cả hai bên vợ chông (Quich Vin Dương C018), CHẾ a hữu vệ và chế độ ts ca vợ chồng theo phip Thật HN GP, 10S Rephip, He Nôi 145. + Nguyễn Vin Cừ 2005), Ch độ rà sn ca vo chẳng eo Lute HN & GB Diệt Now, Loận in TÊN sĩ vắt "học, Tường Đaihọc Luật Ha Nội 1S 13 1. Khái niệm và đặc diémché độ tà i sản giữa vợ và chong có ye ước ngoài Khai niệm vẻ chế độ tải sản giữa vợ và chồng có yêu tổ nước ngoai ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau, bởi 1é, mỗi quốc gia lại có một quan điểm.
khác nhau vé khái niệm "chế độ tai sin giữa vợ và chéng” va cả sự khác nhau. về khái niêm "yêu tổ nước ngoa Pháp luật Việt Nam đặt chế độ tai sản giữa vo và chẳng trong mỗi tương, quan với quan hệ hôn nhân gia đính. Chính vi thé, có thể hiểu chế độ tai san giữa vợ và chồng có yếu tô nước ngoài dua trên căn cử tại Khoản 25 Điều 3 Luật HN & GB năm 2014 như sau: - Quan hệ tài sản giữa vợ và chẳng trong đó có một bên là công dân Việt Nam và bến còn lại là công dân nước ngoài, không kể phát sinh ở trong lãnh. thé hay ngoài lãnh thổ Việt Nam (Y ều tổ chủ thể có quốc tịch khác nhau), ~ Quan hệ tài sản giữa vợ và chẳng trong đó một bên la công dên Việt ‘Nam và người còn lại lả người Việt Nam định cư ở nước ngoài, không ké phat sinh ở trong lãnh thổ hay ngoài lãnh thổ Việt Nam (Yếu tố chủ thể có quốc tich khác nhau), ~ Quan hệ tai sản giữa vợ và chồng trong đó cả vợ vả chồng đều la công, dan Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ này theo.
pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tai sin liên quan ở nước ngoäi (Yêu tổ sự kiện pháp lý và yêu tổ tai sẵn nằm ở nước ngoài) "Trong lĩnh vực hôn nhân va gia đính nói chung, chế dé tai sẵn giữa vo va chẳng có yêu tổ nước ngoai nói riêng thi yếu tổ cư trú (hoặc thường trú) tại nước ngoài có thể ảnh hưởng đến thẩm quyên giải quyết và pháp luật áp dụng. đôi với các quan hệ hôn nhân và gia định, đặc biết là trong bồi cảnh mốt số quốc gia có hệ thống pháp luật tương đồng với Việt Nam cho phép những 14 người nước ngoài kết hôn với nhau trước cơ quan có thẩm quyển của họ. Trong khi đó, đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo Luật quốc tịch Việt Nam bao gém cả người có quốc tịch Việt Nam và quốc tich nước ngoài nên không rõ rang về tư cách chủ thể. Vi vậy, người Việt Nam.
định cư & nước ngoài không còn là một nhóm chủ thể riêng biệt trong định nghĩa về quan hệ dân sự có yếu tổ nước ngoài theo quy định của BLDS Trường hop người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang quốc tịch nước ngoài, quan hệ có sự tham gia của chủ thé nay la quan hệ có yếu tố nước. Trường hợp người Việt Nam định cư 6 nước ngoài nhưng mang quốc fich Việt Nam vá-mơi yêu tổ trong quan Hệ đến sự đâu liên quan đến Vie: Nam thì quan hệ này phải được coi như quan hệ trong nước So sánh với quy định của pháp luật trước đây, cỏ thể thay các quy định về chế độ tai sản giữa vợ và chẳng có yếu tổ nước ngoài về cơ bản đã kế thừa quy định của pháp luết trước đây, bên canh đó, cũng có những bỗ sung nỗi bật sau: “Một là, theo điểm c Khoăn 14 Điều 8 Luật HN & GB năm 2000 thì sự kiện pháp lý lả “căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm đứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài”. Do đó, có thể, lẫu thuật ngữ “theo pháp luật nước ngoài” la chưa chính xác va hợp Lý, không bao quất được các trường hợp phát sinh quan hệ hôn nhân va gia đính giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài. Cũng bởi lẽ, trong trường hợp, sự kién pháp lý xảy ra giữa các bên chủ thể cũng quốc tích, chẳng hạn như giữa công dân Việt Nam với nhau, thi sự kiên đó phải xây ra ỡ nước ngoài.
Còn nếu xảy ra ở trong nước thì không được coi là có yếu tổ nước ngoài. Để khắc phục điểm bat cập trên của Luật HN & GD năm 2000, tại Khoản 25 Điển 3 Luật HN & GD năm 2014 bé sung sự kiện.