Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hôn nhân và gia đình là những hiện tượng xã hội hình thành, phát triển gắn liền với lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội. Hôn nhân đóng vai trò là nền tảng của gia đình, cái nôi phát triển của trẻ em và nhân tố thúc đẩy xã hội. Khi mục đích hôn nhân không đạt được và mâu thuẫn không thể giải quyết, ly hôn trở thành giải pháp tất yếu nhằm chấm dứt sự xung đột giữa các thành viên. Bên cạnh những tác động tiêu cực do sự ly tán gia đình gây ra, ly hôn cũng mang tính tích cực khi giúp tái lập sự ổn định, bền vững của các mối quan hệ xã hội trên cơ sở mới.

Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân (TAND) các cấp cho thấy số lượng vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số án dân sự:

  • Năm 2018: Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm 262.830 vụ việc HN&GĐ, trong đó án ly hôn do mâu thuẫn gia đình chiếm 73,6%.
  • Năm 2019: Tòa án thụ lý sơ thẩm 256.793 vụ việc, trong đó án ly hôn do mâu thuẫn gia đình chiếm 84,2%.
  • Tại cấp địa phương (tiêu biểu như tỉnh Bến Tre): Năm 2019, số vụ án HN&GĐ thụ lý là 5.334 vụ (chiếm 57,15% tổng số án dân sự thụ lý); giai đoạn 2019 - 2021 có xu hướng gia tăng liên tục.

Bên cạnh sự gia tăng về số lượng, các vụ án ly hôn ngày càng phức tạp về mặt quan hệ pháp lý:

  • Sự biến động dân cư và mở rộng mô hình kinh doanh gia đình dẫn đến các tranh chấp tài sản là cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp mà vợ chồng cùng điều hành hoặc tham gia góp vốn.
  • Xuất hiện các dạng tài sản mới, đặc biệt là tài sản vô hình như quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), gây khó khăn trong công tác định giá và phân chia.
  • Luật HN&GĐ năm 2014 sau một thời gian áp dụng đã bộc lộ những vướng mắc, bất cập và khoảng trống điều chỉnh đối với các dạng quan hệ tài sản và nhân thân mới phát sinh.

Về khoảng trống nghiên cứu, các công trình khoa học công bố trước đây chủ yếu tiếp cận từng khía cạnh riêng lẻ của chế định ly hôn (như căn cứ ly hôn, chia tài sản chung, bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên) hoặc chỉ nghiên cứu trong phạm vi địa bàn hành chính hẹp. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu toàn bộ chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này là yêu cầu cấp thiết về mặt khoa học pháp lý và thực tiễn xét xử.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là bổ sung các vấn đề lý luận về chế định ly hôn (khái niệm, nội dung, các yếu tố tác động); làm rõ thực trạng quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn áp dụng tại Tòa án; từ đó đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi chấm dứt quan hệ hôn nhân.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận cơ bản về ly hôn và chế định ly hôn, làm rõ ý nghĩa của chế định này trong hệ thống pháp luật HN&GĐ và đời sống xã hội.
  2. Nghiên cứu lịch sử phát triển của các quy định pháp luật về ly hôn tại Việt Nam qua các giai đoạn phát triển lập pháp.
  3. Phân tích, đánh giá các quy định cụ thể của chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 nhằm chỉ ra những bất cập, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng.
  4. So sánh các quy định về chế định ly hôn trong pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra giá trị tham khảo.
  5. Đề xuất các quan điểm, yêu cầu và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện chế định ly hôn và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về chế định ly hôn; hệ thống quy phạm pháp luật Việt Nam về ly hôn qua các thời kỳ; nội dung chế định ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 và các đạo luật có liên quan (Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015); quy định pháp luật về ly hôn của một số quốc gia; thực tiễn áp dụng pháp luật về ly hôn tại Tòa án nhân dân.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 tại Việt Nam. Luận án không nghiên cứu các quy định của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả luận án đã tiến hành rà soát, phân loại các công trình khoa học đã công bố liên quan đến chế định ly hôn theo các nhóm tài liệu cụ thể:

Nhóm công trình Tác giả, năm công bố và tên công trình Nội dung chính và phạm vi nghiên cứu
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu theo Luật HN&GĐ 2014 Ngô Thùy Châm (2021), Bảo vệ con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 và thực tiễn thực hiện Phân tích quy định và thực tiễn bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên; nêu khó khăn trong việc lấy ý kiến trẻ từ đủ 07 tuổi, mức cấp dưỡng và thi hành án giao con.
Hoàng Phương Thảo (2020), Các căn cứ ly hôn trong các trường hợp ly hôn và thực tiễn áp dụng tại TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Nghiên cứu căn cứ ly hôn thuận tình và theo yêu cầu một bên; phân tích thực tiễn áp dụng tại TAND huyện Lộc Bình.
Nguyễn Thanh Nguyệt (2020), Chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn và thực tiễn thi hành Phân tích nguyên tắc và thực tiễn chia nhà ở là tài sản chung của vợ chồng khi sống riêng và khi sống chung với gia đình.
Tưởng Thị Thúy (2019), Bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ và con khi vợ chồng ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 Đánh giá bất cập trong xác định công sức đóng góp của vợ, yếu tố lỗi của chồng và xác định người trực tiếp nuôi dưỡng con.
Lê Vân Anh (2019), Áp dụng nguyên tắc pháp Luật HN&GĐ về giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn tại Tòa án Làm rõ hệ thống nguyên tắc giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn dưới góc độ áp dụng pháp luật.
Nguyễn Thị Vân (2019), Giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên qua thực tiễn xét xử của Tòa án Nghiên cứu thủ tục và thực tiễn xử lý án đơn phương ly hôn; nêu khó khăn khi xác định nơi cư trú bị đơn và thời gian giải quyết bị kéo dài.
Nguyễn Ninh Chi (2018), Bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên sau khi ly hôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn Khảo sát vướng mắc thi hành án giao con, cấp dưỡng nuôi con; kiến nghị làm rõ điều kiện "không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con".
Nguyễn Xuân Tùng (2018), Áp dụng pháp luật về giải quyết vấn đề nuôi con chung của vợ chồng khi ly hôn Đưa ra định nghĩa hậu quả pháp lý của ly hôn; chỉ ra vướng mắc trong việc giao nhận con và thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Nguyễn Đức Giang (2017), Chia tài sản chung của vợ chồng và thực tiễn xét xử tại TAND quận Cầu Giấy Đánh giá khó khăn trong định giá tài sản chung, tài sản đứng tên một bên nhưng có nguồn gốc từ bố mẹ dựa trên Án lệ số 03/2016/AL.
Lê Thị Huyền Trang (2017), Quyền yêu cầu ly hôn trong Luật HN&GĐ năm 2014 Phân tích quyền nhân thân yêu cầu ly hôn và các trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng.
Trần Nguyễn Thị Tâm Đan (2017), Áp dụng căn cứ ly hôn tại TAND quận Thanh Xuân - thành phố Hà Nội Đánh giá sự thiếu đồng bộ giữa căn cứ áp dụng thủ tục thuận tình ly hôn và căn cứ giải quyết thuận tình ly hôn trong quan hệ với BLTTDS 2015.
Hoàng Thị Trang (2016), Chia tài sản khi ly hôn trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình theo pháp luật Việt Nam Đi sâu vào quan hệ tài sản phức tạp khi vợ chồng chung sống cùng gia đình nhiều thế hệ.
Inthavong Souphaphone (2014), Căn cứ ly hôn - So sánh pháp luật Cộng hòa XHCN Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào So sánh các dấu hiệu cho phép ly hôn; phân biệt giữa căn cứ ly hôn với lý do, động cơ ly hôn.
Công trình nghiên cứu giai đoạn trước Luật 2014 Nguyễn Văn Cừ (2005), Luận án tiến sĩ: Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ Việt Nam Nghiên cứu toàn diện chế độ tài sản và nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng khi chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Vũ Thị Hằng (1997), Luận văn thạc sĩ: Chế định ly hôn theo pháp luật Việt Nam Khảo sát toàn diện chế định ly hôn dưới góc độ Luật HN&GĐ năm 1986.
Cao Mai Hoa (2014), Luận văn thạc sĩ: Ly hôn - một số vấn đề lý luận và thực tiễn Phân tích các khía cạnh lý luận và thực tiễn của chế định ly hôn trong khuôn khổ Luật HN&GĐ năm 2000.
Nông Thị Nhung (2014), Luận văn thạc sĩ: Căn cứ ly hôn - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Lạng Sơn Phân tích căn cứ ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Nguyễn Viết Thái (2012), Luận văn thạc sĩ: Hậu quả pháp lý của ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 Phân tích các hệ quả nhân thân, tài sản và nghĩa vụ nuôi dưỡng sau ly hôn theo quy định của Luật năm 2000.
Bùi Minh Giang (2013), Luận văn thạc sĩ: Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ sau khi ly hôn theo pháp luật Việt Nam Tiếp cận quyền và nghĩa vụ cha mẹ dưới góc độ bảo vệ quyền trẻ em, bình đẳng giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Đề tài NCKH và Hội thảo chuyên đề TS. Phan Thị Luyện (Chủ nhiệm, 2018), Đề tài cấp trường ĐH Luật Hà Nội: Nguyên nhân ly hôn và tác động của ly hôn đến con qua nghiên cứu trường hợp ở quận Thanh Xuân và quận Đống Đa, Hà Nội Khảo sát 6 chuyên đề về thực trạng ly hôn, nguyên nhân mâu thuẫn gia đình và tác động tâm lý đối với con cái tại Hà Nội.
TS. Bùi Thị Mừng (Chủ nhiệm, 2018), Đề tài cấp trường ĐH Luật Hà Nội: Một số vấn đề pháp lý về bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình Phân tích cơ chế bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình trong mối liên hệ với việc giải quyết các vụ án hôn nhân.
Trường Đại học Luật Hà Nội (2020), Kỷ yếu hội thảo khoa học: Chế định ly hôn theo pháp luật nước Cộng hòa XHCN Việt Nam và pháp luật nước Cộng hòa Pháp Tập hợp 11 chuyên đề chuyên sâu của các chuyên gia: Marie-Laure Cicile-Delfosse (về Luật J 21 và thủ tục ly hôn không qua tòa án tại Pháp); Ngô Thị Hường (về quan điểm hiện đại và chế định ly thân); Nguyễn Phương Lan (về quyền yêu cầu ly hôn); Nguyễn Văn Cừ (về căn cứ ly hôn); Trần Anh Tuấn (về 05 thủ tục ly hôn tại Pháp); Nguyễn Thị Lan và Bế Hoài Anh (về 05 nguyên tắc chia tài sản); Bùi Minh Hồng (về chia tài sản đầu tư kinh doanh, dẫn vụ án Tập đoàn Trung Nguyên); Nguyễn Hồng Hải (về nghĩa vụ với bên thứ ba); Đinh Thị Thu Hường (về tranh chấp nhà đất); Ngô Thị Hường (về cấp dưỡng giữa vợ chồng); Bùi Thị Mừng và Nguyễn Thị Lan (về quyền nuôi con và thực hiện nghĩa vụ cha mẹ).
Đề tài cấp trường ĐH Luật Hà Nội (2015): Cơ sở lý luận và thực tiễn của những điểm mới trong Luật HN&GĐ năm 2014 Phân tích luận cứ ban hành và các điểm mới trong các quy định cụ thể của Luật HN&GĐ năm 2014 qua 13 chuyên đề.
Đề tài cấp trường ĐH Luật Hà Nội (2011): Nghiên cứu phát hiện những bất cập của Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 Chuyên đề 9 (TS. Nguyễn Thị Lan) và Chuyên đề 10 chỉ ra bất cập về quyền ly hôn của người mất NLHVDS, ly hôn giả tạo và định giá tài sản.
Bài báo khoa học chuyên ngành Nguyễn Văn Cừ (2014, Tạp chí Lập pháp số 10; 2020, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11) Luận bàn về quyền yêu cầu ly hôn, sự cần thiết xây dựng điều khoản độc lập về căn cứ ly hôn và tiêu chí bản chất hôn nhân tan vỡ.
Lê Vĩnh Châu, Ngô Khánh Tùng (2021), Tạp chí TAND số 7 Phân tích cơ chế giải quyết tranh chấp tài sản là phần vốn góp, cổ phần của vợ chồng trong doanh nghiệp.
Phan Thành Nhân, Đỗ Thị Nhung (2019), Tạp chí Nghề luật số 3 Đề xuất hướng xử lý yêu cầu ly hôn khi một bên vợ hoặc chồng đang bị truy nã qua thủ tục tuyên bố mất tích, tuyên bố chết.
Trần Thị Lịch (2019), Tạp chí TAND số 21; Hoàng Thị Hải Yến (2016), Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 9 Phân tích vướng mắc tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐ 2014 về hạn chế quyền ly hôn của người chồng trong các trường hợp mang thai hộ, thuận tình ly hôn.
Nguyễn Chế Linh (2018), Tạp chí Luật sư VN; Dương Tấn Thanh (2019), Tạp chí Kiểm sát số 5 Làm rõ bất cập trong xác định mức cấp dưỡng và quy trình lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên tại Tòa án.
Tài liệu sách và nghiên cứu quốc tế Giáo trình, sách chuyên khảo trong nước (PGS. Nguyễn Văn Cừ, 2021; PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện, 2002; TS. Phan Thị Luyện, 2016) Hệ thống hóa lý luận cơ bản; bình luận điều luật Luật 2000; phân tích nguyên nhân ly hôn của phụ nữ qua hồ sơ xét xử giai đoạn 2005 - 2010.
Joshua William Viney (2011, ĐH Durham - Anh); Kay C. Lee (1995 - Hàn Quốc); Constance Ahrons; Christine Davies (1976 - Canada); Lenore J. Weitzman Nghiên cứu ly hôn không lỗi tại Anh; cải cách quyền nuôi con và chia tài sản tại Hàn Quốc; tâm lý học trẻ em khi ly hôn; luật ly hôn Canada, Úc; xã hội học về hệ quả ly hôn đối với phụ nữ.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về từng bộ phận của chế định ly hôn tương đối phong phú, phần lớn các công trình dừng lại ở phạm vi nghiên cứu các luật cũ (1986, 2000), nghiên cứu theo từng chuyên đề hẹp (chỉ về con chung, hoặc chỉ về nhà ở, hoặc chỉ về một địa phương cụ thể), hoặc bình luận quy định thuần túy mà thiếu sự đối chiếu thực tiễn xét xử toàn diện.

Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu mang tính tổng thể: Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về chế định ly hôn; làm rõ cấu trúc bên trong của chế định ly hôn trong mối quan hệ hữu cơ với Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; nhận diện đầy đủ những khoảng trống pháp lý của Luật HN&GĐ năm 2014 đối với các quan hệ tài sản phức tạp (cổ phần, tài sản vô hình, quyền SHTT) và các vướng mắc tố tụng; từ đó đề xuất giải pháp lập pháp mang tính đồng bộ và khả thi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Ph.Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước ("Khi hai người không thể sống chung với nhau nữa, thì họ xa lìa nhau"); quan điểm của C.Mác trong Bản dự luật về ly hôn (Tòa án cho phép ly hôn chỉ là việc lập biên bản ghi nhận sự tan rã bên trong của quan hệ hôn nhân).
  • Các khái niệm pháp lý công cụ được xây dựng:
    • Chế định ly hôn: Tổng hòa các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con, và giữa các thành viên gia đình khi chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật.
    • Quyền yêu cầu ly hôn: Quyền của các chủ thể được Nhà nước cho phép thực hiện việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng theo trình tự luật định.
    • Căn cứ ly hôn: Những tình tiết, điều kiện (cơ sở pháp lý) được pháp luật dự liệu phản ánh tình trạng hôn nhân đã thực sự tan vỡ, làm cơ sở để Tòa án quyết định cho ly hôn (phân biệt rõ với lý do và nguyên nhân ly hôn).
    • Hậu quả pháp lý của ly hôn: Tổng thể các vấn đề pháp lý phát sinh mà Tòa án phải giải quyết khi chấm dứt quan hệ hôn nhân, bao gồm quan hệ nhân thân giữa vợ chồng, quyền và nghĩa vụ đối với con chung, cấp dưỡng, chia tài sản chung và xử lý nghĩa vụ đối với bên thứ ba.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp duy vật biện chứng: Phương pháp chủ đạo xuyên suốt, xem xét chế định ly hôn trong sự vận động lịch sử, gắn liền với các điều kiện kinh tế - xã hội và đặt trong mối liên hệ với các chế định pháp luật dân sự, tố tụng dân sự.
  • Phương pháp phân tích và đánh giá: Áp dụng để làm rõ nội dung các quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn xét xử các vụ án ly hôn của ngành Tòa án.
  • Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu đi trước, báo cáo tổng kết ngành để chỉ ra những vấn đề lý luận đã được làm sáng tỏ và các vấn đề còn tồn tại bất cập.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh quy định của pháp luật Việt Nam với quy định về ly hôn của Pháp (BLDS 1804, Luật cải cách J 21 năm 2016), Lào (Luật Gia đình), Thái Lan, Singapore, Nhật Bản (BLDS 1896), Úc (Đạo luật Gia đình 1975), Canada, Hàn Quốc và Anh.
  • Phương pháp logic: Sử dụng các quy luật suy luận logic pháp lý để xây dựng các khái niệm, phân loại căn cứ ly hôn và đề xuất giải pháp hoàn thiện điều luật.
  • Phương pháp thống kê mô tả và xã hội học pháp lý: Thu thập, mô tả số liệu thống kê tư pháp thực tế từ TAND tối cao và Tòa án địa phương nhằm phản ánh thực trạng số lượng, tính chất phức tạp của các tranh chấp hôn nhân trong đời sống xã hội.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu

  • Hệ thống văn bản pháp luật: Luật HN&GĐ các năm 1959, 1986, 2000, 2014; Bộ luật Dân sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 35/2000/QH10; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Án lệ số 03/2016/AL, Án lệ số 53/2022/AL.
  • Dữ liệu xét xử: Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án các năm 2018, 2019 của TAND tối cao; báo cáo và tham luận tại HĐND tỉnh Bến Tre (2021); dữ liệu xét xử tại một số Tòa án cấp quận/huyện (Thanh Xuân, Đống Đa, Cầu Giấy, Lộc Bình).
  • Văn bản pháp luật nước ngoài: Bộ luật Dân sự Pháp (Điều 229, 230, 231, 232); Bộ luật Dân sự Nhật Bản 1896 (Điều 770); Đạo luật Gia đình Úc 1975 (Điều 48); Luật Gia đình Lào; các quy định pháp luật của Thái Lan, Singapore, Canada.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài Luận án

Chương 1 tập hợp, phân loại và đánh giá một cách toàn diện các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chế định ly hôn. Nội dung phân tích chỉ ra:

  • Các nghiên cứu trong nước đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh chuyên biệt (bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên, căn cứ ly hôn, phân chia tài sản chung là nhà ở hoặc sống chung với gia đình).
  • Tồn tại sự phân mảnh: Chưa có công trình nào nghiên cứu chỉnh thể toàn diện chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 ở cấp độ luận án tiến sĩ.
  • Các bài viết học thuật và kỷ yếu hội thảo khoa học đã phản ánh nhiều vướng mắc mới phát sinh từ thực tiễn như ly hôn khi một bên bị truy nã, chia tài sản là cổ phần doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba, thủ tục công nhận thuận tình ly hôn không qua tòa án (kinh nghiệm Luật J 21 của Pháp).
  • Chương này xác lập cơ sở khoa học để tác giả kế thừa các kết quả nghiên cứu hợp lý và định hình phạm vi giải quyết những khoảng trống lý luận, thực tiễn trong các chương tiếp theo.

Chương 2: Những vấn đề lý luận chung về chế định ly hôn

Chương 2 tập trung luận giải bản chất pháp lý và hệ thống khái niệm của chế định ly hôn:

  • Bản chất chế định ly hôn: Khẳng định chế định ly hôn là tổng thể quy phạm điều chỉnh quan hệ nhân thân và tài sản. Trong đó, các quy phạm nhân thân và tài sản có tính liên đới mật thiết. Ly hôn làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ chồng, kéo theo việc chấm dứt chế độ tài sản chung hợp nhất, làm phát sinh việc xác định người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng và xử lý các nghĩa vụ tài sản với bên thứ ba.
  • Quyền yêu cầu ly hôn: Là quyền nhân thân độc lập của vợ, chồng. Vợ chồng không thể ủy quyền cho nhau để giải quyết ly hôn do tính chất quyền lợi đối lập. Phân tích điểm mới của pháp luật Việt Nam khi cho phép cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn trong trường hợp đặc biệt: Một bên vợ/chồng bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ hành vi, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do người kia gây ra.
  • Căn cứ ly hôn: Phân biệt rạch ròi giữa "căn cứ ly hôn" với "lý do" và "nguyên nhân ly hôn". Luận án phân tích sự khác biệt giữa hai mô hình lập pháp trên thế giới:
    1. Mô hình dựa trên lỗi (Fault-based divorce): Điển hình trong BLDS Pháp 1804 (ngoại tình, hành vi thô bạo, bị kết án), Thái Lan, Singapore, Nhật Bản (BLDS 1896 quy định 5 trường hợp tại Điều 770 như ngoại tình, ác ý bỏ rơi, mất tích 3 năm, tâm thần nặng).
    2. Mô hình dựa trên sự tan vỡ hôn nhân/thời gian ly thân (No-fault divorce): Như quy định thời gian ly thân 12 tháng tại Úc (Điều 48 Đạo luật 1975) hoặc ly thân 3 - 4 năm tại Singapore.
    • Tác giả khẳng định quan điểm: Căn cứ ly hôn phải phản ánh trung thực bản chất quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ ("đã chết"), không nên lấy yếu tố "lỗi" làm căn cứ quyết định vì lỗi chỉ là một trong các nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn.
  • Hậu quả pháp lý của ly hôn và tiêu chí giao quyền nuôi con: Hậu quả pháp lý là toàn bộ các vấn đề phát sinh mà Tòa án phải xử lý. Khi xác định người trực tiếp nuôi con, Tòa án phải ưu tiên sự thỏa thuận của cha mẹ vì lợi ích tốt nhất của trẻ; nếu không thỏa thuận được, Tòa án xem xét 3 nhóm tiêu chí: (i) Khả năng tài chính bảo đảm sinh hoạt, học tập; (ii) Độ tuổi của con; (iii) Phẩm chất đạo đức của cha, mẹ.

Chương 3: Nội dung chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014, thực tiễn áp dụng và một số vướng mắc, bất cập

Chương 3 đi sâu phân tích hệ thống quy định thực định và đối chiếu với thực tiễn xét xử tại TAND các cấp:

  • Đánh giá quy định về quyền yêu cầu ly hôn, thủ tục thuận tình ly hôn và đơn phương ly hôn theo quy định của Luật năm 2014 trong mối quan hệ với BLTTDS năm 2015.
  • Chỉ ra các vướng mắc trong việc áp dụng căn cứ ly hôn: Thiếu điều khoản riêng quy định cụ thể về căn cứ ly hôn dẫn đến sự nhận định không thống nhất giữa các Thẩm phán; khó khăn trong việc xác minh tình trạng "mục đích hôn nhân không đạt được" hoặc "đời sống chung không thể kéo dài".
  • Phân tích những hạn chế khi xử lý tài sản chung:
    • Bất cập trong việc xác định nguồn gốc tài sản giữa tài sản chung và tài sản riêng (đặc biệt khi tài sản đứng tên một bên nhưng có nguồn gốc tặng cho, thừa kế từ cha mẹ).
    • Khó khăn trong việc định giá và phân chia tài sản là cổ phần, phần vốn góp trong các doanh nghiệp gia đình hoặc công ty cổ phần.
    • Vấn đề phân chia tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ chưa có quy định hướng dẫn chi tiết.
  • Vấn đề giải quyết con chung và cấp dưỡng:
    • Việc lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên chưa có quy trình chuẩn hóa (lấy trực tiếp hay gián tiếp), gây ảnh hưởng tâm lý của trẻ.
    • Thiếu quy định cụ thể về mức cấp dưỡng tối thiểu và chế tài xử lý tình trạng trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
    • Khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án dân sự đối với phán quyết giao người trực tiếp nuôi con.

Chương 4: Yêu cầu hoàn thiện chế định ly hôn và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly hôn trong giai đoạn hiện nay

Chương 4 xác định phương hướng và hệ thống giải pháp lập pháp:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Bảo đảm tính thống nhất giữa Luật HN&GĐ với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự; tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt và thỏa thuận của đương sự; bảo vệ quyền con người, quyền bình đẳng giới, bảo vệ ưu tiên quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con chưa thành niên; phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế.
  • Kiến nghị sửa đổi, bổ sung cụ thể:
    • Xây dựng một điều khoản độc lập, cụ thể hóa các tiêu chí xác định "căn cứ ly hôn" trong Luật HN&GĐ.
    • Bổ sung quy định chi tiết về cơ chế phân chia tài sản của vợ chồng đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh, cổ phần, vốn góp doanh nghiệp và quyền sở hữu trí tuệ.
    • Hoàn thiện quy định về quyền yêu cầu ly hôn của cha mẹ, người thân thích; làm rõ các trường hợp hạn chế quyền ly hôn của người chồng nhằm tránh bị lạm dụng hoặc tạo ra sự bất bình đẳng.
    • Ban hành hướng dẫn chi tiết về phương thức lấy ý kiến nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên; bổ sung khung định mức cấp dưỡng nuôi con dựa trên thu nhập thực tế hoặc mức lương cơ sở.
    • Nghiên cứu tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế, như cơ chế công nhận ly hôn thuận tình không qua Tòa án đối với các trường hợp vợ chồng hoàn toàn đồng thuận về nhân thân, tài sản và con cái (tương tự mô hình Luật J 21 của Pháp) nhằm giảm tải áp lực xét xử cho hệ thống Tòa án.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ thực hiện việc hệ thống hóa, phân tích toàn diện và chuyên sâu các quy định về chế định ly hôn theo Luật HN&GĐ năm 2014 trong sự gắn kết với Bộ luật Dân sự năm 2015 và các đạo luật liên quan.
  2. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống khái niệm lý luận nền tảng: Khái niệm chế định ly hôn, khái niệm quyền yêu cầu ly hôn, bản chất của căn cứ ly hôn và cấu trúc các yếu tố cấu thành hậu quả pháp lý của ly hôn.
  3. Luận giải một cách có hệ thống các yếu tố kinh tế, xã hội, đạo đức, bình đẳng giới tác động đến quá trình xây dựng, thực thi và hoàn thiện chế định ly hôn trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Tổng hợp, lượng hóa và phân tích số liệu xét xử án hôn nhân gia đình giai đoạn 2018 - 2019 trên phạm vi toàn quốc và tại các địa phương cụ thể; chỉ ra sự gia tăng về số lượng cũng như sự chuyển dịch về tính chất phức tạp của tranh chấp hôn nhân hiện đại.
  2. Nhận diện và phân loại toàn diện các vướng mắc, khoảng trống pháp lý của Luật HN&GĐ năm 2014 khi áp dụng trong thực tiễn tư pháp, bao gồm:
    • Khoảng trống trong việc xử lý tài sản là vốn góp doanh nghiệp, cổ phần, quyền sở hữu trí tuệ.
    • Bất cập trong xác định căn cứ ly hôn đơn phương và thủ tục công nhận thuận tình ly hôn.
    • Vướng mắc trong quy trình lấy ý kiến của con từ đủ 07 tuổi, xác định mức cấp dưỡng và tổ chức thi hành án giao nhận con.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị lập pháp có luận cứ khoa học nhằm phục vụ trực tiếp cho quá trình sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2014 và ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu đã xác định, luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng chế định ly hôn đối với các quan hệ hôn nhân trong nước theo Luật HN&GĐ năm 2014; luận án không nghiên cứu các quy định pháp luật và thực tiễn giải quyết đối với các vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng nghiên cứu chế định ly hôn có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh tư pháp quốc tế và hội nhập toàn cầu.
    • Nghiên cứu chuyên sâu cơ chế tố tụng đặc thù tại Tòa Gia đình và Người chưa thành niên đối với các tranh chấp tài sản phức tạp và quyền nuôi dưỡng con cái sau ly hôn.
    • Đánh giá khả năng thể chế hóa chế định ly thân trong hệ thống pháp luật Việt Nam nhằm bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em trước khi tiến hành thủ tục ly hôn chính thức.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp luận cứ khoa học, cơ sở lý luận và dữ liệu thực tiễn phục vụ cho quá trình tổng kết, sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ năm 2014 và các đạo luật liên quan đến tư pháp dân sự.
  • Đối với cơ quan xét xử và Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Là tài liệu chuyên khảo tham khảo trong việc phân tích điều luật, nhận diện bản chất quan hệ hôn nhân tan vỡ, xử lý các vụ án phân chia tài sản chung trong doanh nghiệp và áp dụng các nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chung khi ly hôn.
  • Đối với hoạt động nghiên cứu và đào tạo: Là nguồn tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Tố tụng Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật học cho học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án đưa ra khái niệm "chế định ly hôn" được hiểu như thế nào?

Theo luận án, chế định ly hôn là tổng hòa các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ về nhân thân, về tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con và các thành viên gia đình khi quan hệ hôn nhân chấm dứt trước pháp luật. Các quy phạm về nhân thân và tài sản trong chế định này có mối liên hệ mật thiết và liên đới chặt chẽ với nhau.

2. Sự khác biệt giữa căn cứ ly hôn với nguyên nhân và lý do ly hôn theo luận giải của tác giả là gì?

  • Căn cứ ly hôn là tình tiết, điều kiện (cơ sở pháp lý) được pháp luật dự liệu phản ánh tình trạng hôn nhân đã thực sự tan vỡ ("đã chết"), là cơ sở để Tòa án quyết định cho ly hôn.
  • Nguyên nhân ly hôn là những sự kiện, hiện tượng khách quan hoặc chủ quan tác động vào quan hệ hôn nhân làm cho hôn nhân tan vỡ.
  • Lý do ly hôn là cái cớ mà vợ hoặc chồng nêu ra trong đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Nguyên nhân và lý do là cơ sở để nghiên cứu xây dựng căn cứ, nhưng Tòa án không thể tùy tiện căn cứ vào lý do hay nguyên nhân thuần túy để cho ly hôn mà phải dựa trên căn cứ pháp lý do luật định.

3. Luật HN&GĐ năm 2014 quy định trường hợp đặc biệt nào cho phép người khác yêu cầu ly hôn thay cho vợ/chồng?

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định cha, mẹ hoặc người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do người chồng/vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

4. Luận án so sánh căn cứ ly hôn của Việt Nam với các nước áp dụng mô hình dựa trên yếu tố "lỗi" như thế nào?

Luận án chỉ ra nhiều nước tư bản (như Pháp trong BLDS 1804 tại các Điều 229, 230, 231; Nhật Bản trong Điều 770 BLDS 1896; Thái Lan; Singapore) coi hôn nhân là dạng hợp đồng và quy định căn cứ ly hôn dựa vào "lỗi" của một bên (ngoại tình, ngược đãi, bỏ rơi, có hành vi xấu). Tuy nhiên, tác giả khẳng định pháp luật Việt Nam nên tiếp cận căn cứ ly hôn dựa vào thực chất quan hệ hôn nhân đã tan vỡ, bởi vì "lỗi" chỉ là một trong các nguyên nhân và không phải mọi trường hợp có lỗi đều làm hôn nhân tan vỡ.


Kết luận

Luận án đã thực hiện nghiên cứu toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 trong mối liên hệ với hệ thống pháp luật thực định Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, phân tích luật thực định, so sánh pháp luật quốc tế và tổng hợp dữ liệu xét xử thực tế của ngành Tòa án, tác giả đã làm rõ cấu trúc lý luận của chế định ly hôn, chỉ ra các vướng mắc trong xử lý tài sản doanh nghiệp, con chung và căn cứ ly hôn. Công trình đề xuất hệ thống kiến nghị lập pháp cụ thể, có giá trị khoa học và thực tiễn phục vụ cho công tác hoàn thiện pháp luật hôn nhân gia đình và áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân trong giai đoạn hiện nay.