Chương 1: Những vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Chương 2: Quy định của pháp luật về chia tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn – thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHIA TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN 1. Khái quát về tài sản chung của vợ chồng.
Tài sản có vai trò quan trọng đối với đời sống mỗi con người. Trong xã hội, hầu như mỗi cá nhân đều lao động để có tài sản nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình. Do đó khái niệm tài sản xuất hiện trong pháp luật từ rất lâu, theo Luật La Mã cổ đại, “tài sản bao gồm các vật và các quyền trừu tượng mà con người có được đối với vật”. 1 Các nước theo hệ thống Civil Law như Pháp, Nhật Bản, Canada pháp không đưa ra định nghĩa tài sản mà tài sản được nhận biết thông qua việc phân loại, tiêu biểu tại Bộ luật Dân sự Pháp có quy định Tài sản bao gồm động sản và bất động sản (Điều 516 và quy định cách thức xác định tài sản, theo đó có thể hiểu khái quát rằng tài sản bao gồm những vật (mang tính hữu hình) và quyền (mang tính vô hình).2 Các nước theo hệ thống Comom Law, tiêu biểu là Hoa Kỳ tài sản được định nghĩa như quyền chứ không phải là vật theo cách hiểu thông thường3.
Trong khoa học pháp lý hiện nay, khái niệm tài sản được các nhà nghiên cứu và lập pháp tập trung nghiên cứu bởi với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ nhiều giá trị mới xuất hiện như: các loại tiền ảo (Bitcoin, Litecoin, …), các tài khoản mạng xã hội (Facebook), tên miền, zalo, … càng khó định nghĩa khái quát được tất cả các loại tài sản. Trong pháp luật nước ta, đến nay chưa có định nghĩa khái quát về tài sản, để nhận biết tài 1 Nguyễn Ngọc Điện (2009), Giáo trình luật La Mã, Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia. 2 Vũ Thị Hồng Yến, Đại học Luật Hà Nội, “Khái niệm tài sản trong pháp luật dân sự và kiến nghị sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005”, Tạp chí Nghiên cứu Lập Pháp, số 21. 3 Nguyễn Ngọc Điện (2011), Bình luận khoa học về tài sản trong luật dân sự Việt Nam, Nxb.
8 sản luật quy định cách phân loại tài sản là vật hữu hình bao gồm tiền và giấy tờ có giá và vật vô hình là các quyền tài sản.4 Pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam cũng không có khái niệm khái quát về tài sản chung của vợ chồng, chỉ đưa ra cách nhận biết tài sản chung vợ chồng để phân biệt với các tài sản thuộc hình thức sở hữu khác thông qua biện pháp liệt kê các căn cứ hình khối tài sản có chung, cụ thể như sau: - Tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, - Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng - Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 40 của Luật này; - Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Tài sản chung của vợ, chồng được sở hữu theo hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia, tồn tại song song với quan hệ hôn nhân, chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Nếu sở hữu chung theo phần mang tính “tạm thời” các đồng sở hữu có quyền yêu cầu phân chia tài sản bất kỳ lúc nào, không cần viện dẫn lý do, thì sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng có sự khác biệt, tài sản chung chỉ được chia khi có yêu cầu và thực hiện theo trình tự luật định, sau khi chia khối tài sản chung vẫn tiếp tục được tạo mới thông qua lao động, sản xuất, trúng thưởng. Quyền định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung rất hạn chế, hầu như đều do vợ chồng cùng định đoạt, trừ một số trường hợp như lập di chúc, tuy nhiên di chúc này chỉ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết, tức sở hữu chung hợp nhất đã chấm dứt và chuyển thành sở hữu chung theo phần do hôn nhân chấm dứt.
Như vậy, từ những phân tích luật thực định theo tác giả tài sản chung của vợ chồng được khái quát là là vật, tiền và giấy tờ có giá, quyền tài sản do vợ chồng tạo 4 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005. 9 ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thoả thuận là tài sản chung; đây là tài sản chung hợp nhất có thể phân chia, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng. Hầu hết khi mới kết hôn, vợ chồng chưa có nhiều tài sản chung, thời gian chung sống càng lâu nhờ vào quá trình lao động và tích góp mà khối tài sản có chung ngày một lớn dần, là nền tảng đảm bảo thực hiện được chức năng gia đình, chức năng xã hội.
Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ- CP ngày 31/12/2014 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 20145 căn cứ vào nguồn gốc hình thành tài sản có thể phân chia tài sản chung của vợ chồng thành các nhóm như sau: 1. Nhóm tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Tài sản do vợ, chồng tạo ra” trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, cách quy định này gây sự hiểu nhằm tài sản chung phải do cả vợ, chồng tạo ra, tuy nhiên quan điểm này không phù hợp với nguyên tắc xuyên suốt của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ngoài ra tại khoản 3 Điều 33 có quy định nguyên tắc suy đoán nếu không có căn cứ chứng minh là tài sản riêng của mỗi bên thì đây là tài sản chung của vợ, chồng và từ khi có Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, nhóm tài sản đã được hiểu thống nhất tài sản do một bên vợ hoặc chồng hoặc cả vợ và chồng cùng tạo ra trong thời gian hôn nhân còn tồn tại vẫn là tài sản chung, nhưng có thể thấy rằng cách quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có bước lùi so với các luật Hôn nhân và Gia đình trước đây 6. 5 Điều 9, 10 Nghị định 126/2014 ngày 31/12/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
6 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. 10 Thuật ngữ “tạo ra” có nội hàm rộng được hiểu là làm ra, từ không có trở thành có và tồn tại, nên tạo ra bao gồm cả hoạt động lao động, sản xuất hoặc các hoạt động khác mà có được tài sản, do đó theo tác giả có thể được chia ra các dạng như sau: Thứ nhất, lao động “giản đơn”, đây là hoạt động ít cần nhiều tri thức, công nghệ, chủ yếu sử dụng sức mạnh của cơ thể để tạo ra tài sản, hình thức này thường thấy trong sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ ở các vùng nông thôn, những năm gần đây với sự phát triển của tri thức và công nghệ, người nông dân cũng dần học hỏi, áp dụng để cải tiến lao động, nâng cao số lượng, chất lượng sản phẩm, nên hiện nay nhóm lao động giản đơn đang dần được thay thế bởi lao động “trí óc”. Thứ hai, lao động bằng “trí óc”, đây là hình thức lao động sử dụng tư duy và tri thức ngày nay hình thức lao động này ngày càng phổ biến, người lao động được đào tạo tri thức, kinh nghiệm, để tạo ra các tài sản có giá trị tinh thần như sản phẩm âm nhạc, văn học, hoặc các sản phẩm khoa học có giá trị kinh tế cao như phần mềm công nghệ, các quy trình sản xuất nông, lâm ngư nghiệp. Thứ ba, thực hiện giao dịch dân sự có đền bù để thu về tài sản khác.
Đây là dạng tạo ra tài sản cao cấp hơn dạng lao động, sản xuất, bằng cách sử dụng tài sản đã có thông qua giao dịch để nhận về các loại tài sản khác như chuyển nhượng quyền sử dụng đất để nhận tiền, sử dụng tiền để nhận chuyển nhượng nhà và đất, sử dụng tiền để mua các vật dụng thiết yếu trong gia đình,… 1. Nhóm tài sản là thu nhập do lao động, sản xuất kinh doanh, thu nhập khác trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản chung của vợ chồng bên cạnh được “tạo ra” thì còn bao gồm các khoản thu nhập từ lao động, sản xuất kinh doanh và các thu nhập khác. Pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy định về nhóm thu nhập này gần 40 năm nhưng đến nay chưa giải thích thu nhập là thế nào.
Nhưng theo các lĩnh vực pháp luật có liên quan như Thuế, Lao động, Dân sự thu nhập của vợ, chồng được nhìn nhận thông qua cách liệt kê: Thứ nhất, thu nhập từ hoạt động nghề nghiệp, đây là loại tài sản phổ biến xã hội hiện nay của nước ta. Trong đó tiền lương, tiền công là cốt yếu và tất cả các khoản 11 phụ cấp, liên quan đến tiền lương, tiền công, như phụ cấp chức vụ, công tác phí, phụ cấp độc hại, nguy hiểm.và các khoản thù lao thường xuyên hoặc không thường xuyên. Thứ hai, thu nhập từ sản xuất kinh doanh là lợi ích vật chất thu được từ hoạt động mua bán, sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư có thể kể đến khoản lợi nhuận, lợi tức từ cổ phần, cổ tức, hoặc chuyển nhượng cổ phần, cổ tức, chuyển nhượng chứng khoán, bất động sản. nhưng đã trừ đi thuế và các chi phí kinh doanh.
Thứ ba, các dạng thu nhập khác.