Tổng quan về luận án
Sự ra đời của Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ) năm 2014 đánh dấu bước chuyển biến mang tính bước ngoặt trong tư duy lập pháp dân sự Việt Nam khi chính thức tái lập và ghi nhận Chế độ tài sản (CĐTS) của vợ chồng theo thỏa thuận bên cạnh chế độ tài sản luật định (pháp định). Chế định này từng xuất hiện trong lịch sử pháp luật Việt Nam thời kỳ cận đại dưới hình thức "hợp đồng hôn nhân" hay "khế ước hôn nhân" (hôn khế) tại Bộ luật Dân sự (BLDS) Bắc Kỳ 1931, BLDS Trung Kỳ 1936 và BLDS Sài Gòn 1972, nhưng hoàn toàn vắng bóng trong các đạo luật HN&GĐ năm 1959, 1986 và 2000. Việc thể chế hóa quyền tự do định đoạt tài sản tiền hôn nhân là sự cụ thể hóa nguyên tắc hiến định về quyền con người, quyền sở hữu tư nhân theo Hiến pháp năm 2013 và đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi nằm ở chỗ: các quy định hiện hành về CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận (từ Điều 47 đến Điều 50 Luật HN&GĐ năm 2014) mới chỉ dừng lại ở mức độ "định khung", cứng nhắc và bộc lộ nhiều xung đột mang tính hệ thống với BLDS năm 2015. Trên thực tế, tỷ lệ các cặp vợ chồng lựa chọn xác lập chế độ này chiếm tỷ trọng cực kỳ khiêm tốn; việc thực thi tại các tổ chức hành nghề công chứng và Tòa án nhân dân gặp vô vàn vướng mắc do thiếu vắng các cơ chế giải thích quy phạm chi tiết. Luận án tiến sĩ luật học "Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong pháp luật Việt Nam" (Mã số: 9380103; Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự) do NCS. Nguyễn Thị Lan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ tại Trường Đại học Luật Hà Nội (2023) là công trình nghiên cứu toàn diện, độc lập đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ giải quyết trọn vẹn khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
Luận án đặt ra hệ thống 3 giả thuyết nghiên cứu (Hypotheses) và 6 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions) được đánh số tường minh:
- Giả thuyết H1: Cơ sở lý luận và nền tảng học thuyết về CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa được phát triển hoàn chỉnh, thiếu tính kết nối giữa quyền tự do cam kết dân sự với tính đặc thù của quan hệ nhân thân gia đình.
- Giả thuyết H2: Hệ thống quy phạm thực định hiện hành tồn tại nhiều lỗ hổng, mâu thuẫn nội tại về thời điểm xác lập, điều kiện hình thức, căn cứ vô hiệu và hệ quả pháp lý khi chấm dứt chế độ tài sản.
- Giả thuyết H3: Thực tiễn thi hành pháp luật đạt hiệu quả thấp do nhận thức xã hội hạn chế, rào cản tâm lý truyền thống và sự lúng túng của các cơ quan áp dụng pháp luật.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm:
- Bản chất pháp lý, đặc điểm và ý nghĩa kinh tế - xã hội của CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận là gì?
- Tiến trình phát triển lịch sử của CĐTS ước định tại Việt Nam đã để lại những giá trị kế thừa nào?
- Các quy định hiện hành của Luật HN&GĐ năm 2014 và văn bản hướng dẫn thi hành bộc lộ những bất cập, xung đột pháp lý cụ thể nào?
- Kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Pháp, Hoa Kỳ, Úc, Thái Lan, Trung Quốc) gợi mở những giải pháp nào cho Việt Nam?
- Thực trạng nhận thức xã hội, hoạt động công chứng và thực tiễn xét xử tranh chấp tài sản của Tòa án nhân dân giai đoạn 2018–2022 phản ánh bức tranh thực tiễn ra sao?
- Cần xây dựng những giải pháp lập pháp và cơ chế thực thi cụ thể nào nhằm hoàn thiện CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận ở nước ta?
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên sự tích hợp giữa Thuyết Quyền tự chủ tư (Theory of Private Autonomy), Thuyết Hợp đồng trong Luật Gia đình (Contractualism in Family Law) và Thuyết Bảo vệ bên yếu thế (Protection of Vulnerable Parties). Phạm vi nghiên cứu bao quát dữ liệu khảo sát xã hội học chuyên sâu, phỏng vấn sâu chuyên gia pháp lý và thống kê hàng nghìn bản án, quyết định giải quyết tranh chấp hôn nhân từ Tòa án nhân dân các cấp trong giai đoạn 2018–2022.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tình hình nghiên cứu quốc tế và trong nước cho thấy sự phân hóa rõ nét giữa hai trường phái tư duy lập pháp về quan hệ tài sản gia đình:
Về nghiên cứu quốc tế:
Trường phái thứ nhất đề cao quyền tự chủ ý chí cá nhân trong quan hệ tài sản hôn nhân. Anne Sanders (2010) trong công trình "Private autonomy and marital property agreements" (The International and Comparative Law Quarterly) phân tích phán quyết lịch sử của Tòa án Tối cao Vương quốc Anh trong vụ án Radmacher v Granatino, khẳng định xu hướng các quốc gia Thông luật (Common Law) ngày càng thừa nhận hiệu lực ràng buộc của thỏa thuận tiền hôn nhân xuất phát từ nền tảng quyền tự chủ cá nhân hình thành từ thế kỷ XIX tại Đức. Jens M. Scherpe (2012) trong chuyên khảo "Marital Agreements and Private Autonomy in Comparative Perspective" đã khảo sát đối chiếu 14 hệ thống tài phán (Anh, Úc, Pháp, Đức, Hoa Kỳ...), chỉ rõ các thỏa thuận tài chính (trước hôn nhân, trong hôn nhân và khi ly thân) đóng vai trò tối ưu hóa việc quản trị rủi ro tài sản. Tại Hoa Kỳ, Debele & Susan C. Rhode (2011) và Max Rheinstein đã chứng minh sự chuyển dịch từ quan niệm coi hôn ước là "cổ xúy ly hôn" sang việc thừa nhận rộng rãi Đạo luật Tài sản Hôn nhân Thống nhất (Uniform Marital Property Act - UMPA). Tại Pháp, Nicolas Prémeaux và Marion Leturcq (2017) trong nghiên cứu "Prenuptial agreements and matrimonial property regimes in France 1855–2010" chỉ ra rằng tỷ lệ các cặp đôi ký thỏa thuận tiền hôn nhân đạt ~40% vào năm 1855, giảm xuống dưới 10% sau cải cách chế độ tài sản năm 1965, và phục hồi lên mức ~18% vào năm 2010 nhờ sự linh hoạt của các chế độ ước định như cộng đồng toàn sản hay phân sản tuyệt đối. Ngược lại, tại khu vực Đông Á, Cheng Yingqi (2011) ghi nhận tại Trung Quốc, mặc dù Điều 19 Luật Hôn nhân năm 2001 cho phép lập thỏa thuận tài sản nhưng tỷ lệ xác lập tại các đô thị cấp một chỉ đạt dưới 5%, và gần 90% người chưa kết hôn vẫn e ngại do rào cản tâm lý văn hóa Á Đông. Robkun Rayanakorn (1990) cũng phân tích tính ngặt nghèo của Điều 1466 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan khi yêu cầu thỏa thuận tiền hôn nhân bắt buộc phải đăng ký kèm giấy chứng nhận kết hôn mới có giá trị pháp lý.
Về nghiên cứu trong nước:
Các học giả Việt Nam đã có nhiều công trình tiếp cận từ nhiều góc độ. Nguyễn Hồng Hải (1998) từng cảnh báo về mặt trái của chế độ tài sản ước định khi "cái tôi" cá nhân có thể làm suy giảm tính gắn kết thiêng liêng và nghĩa vụ cộng đồng trong gia đình. Ngược lại, Bùi Minh Hồng (2009, 2012) bảo vệ quan điểm cho rằng quyền tự do cam kết theo thỏa thuận không phá vỡ bản chất gia đình mà củng cố sự minh bạch kinh tế trong thời kỳ mới. Các chuyên gia đầu ngành như PGS.TS. Nguyễn Văn Cừ (2005, 2008, 2015), GS.TS. Nguyễn Ngọc Điện & TS. Đoàn Thị Phương Diệp (2016, 2018), Quách Văn Dương (2018), Ngô Thanh Hương (2020) đã phân tích sâu sắc các khía cạnh về điều kiện có hiệu lực, giao dịch vô hiệu và bảo vệ người thứ ba.
Positioning và bước tiến của luận án:
Điểm hạn chế của các công trình trước đây là chỉ tiếp cận phân mảnh từng khía cạnh kỹ thuật lập pháp hoặc được thực hiện trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực thi hành. Luận án của NCS. Nguyễn Thị Lan định vị là công trình nghiên cứu hệ thống hóa toàn diện đầu tiên sau gần 10 năm thực thi đạo luật 2014, kết hợp liên ngành giữa khoa học luật thực định (doctrinal legal research) với điều tra xã hội học thực nghiệm, từ đó giải quyết triệt để các xung đột quy phạm chưa từng được làm rõ giữa Luật HN&GĐ 2014 và BLDS 2015.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án đã đóng góp vào hệ thống lý luận khoa học luật dân sự và luật hôn nhân gia đình Việt Nam các luận điểm cơ bản:
- Xác lập lại bản chất nhị nguyên của thỏa thuận tài sản vợ chồng: Luận án mở rộng Lý thuyết Quyền tự chủ tư của Savigny và các học giả trường phái Dân luật (Civil Law), chứng minh rằng thỏa thuận về CĐTS của vợ chồng là một dạng giao dịch dân sự đặc thù (Sui Generis Contract). Giao dịch này vừa mang bản chất bình đẳng, tự do thỏa thuận của luật tư, vừa bị giới hạn nghiêm ngặt bởi các nguyên tắc trật tự công, đạo đức xã hội và trách nhiệm nhân thân gia đình.
- Giải quyết xung đột học thuyết giữa Luật chung (BLDS) và Luật chuyên ngành (Luật HN&GĐ): Luận án chứng minh sự bất cập của việc dẫn chiếu cơ học Điều 129 BLDS năm 2015 (về công nhận giao dịch vi phạm hình thức khi thực hiện được 2/3 nghĩa vụ) vào quan hệ tài sản vợ chồng. Trong quan hệ hôn nhân trường cửu, nghĩa vụ tài sản mang tính liên tục và không thể xác định trước định lượng "2/3 nghĩa vụ", đòi hỏi một cơ chế điều chỉnh chuyên biệt.
- Mô hình hóa lý thuyết chuyển dịch chế độ tài sản: Đề xuất mô hình chuyển hóa linh hoạt giữa CĐTS theo luật định và CĐTS theo thỏa thuận, phá vỡ định kiến cho rằng thỏa thuận tài sản chỉ được đóng khung duy nhất ở thời điểm trước khi kết hôn.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của đề tài tích hợp ba lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết Tự do Ý chí & Tự do Hợp đồng: Chuẩn hóa khái niệm CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận là "toàn bộ các quy tắc pháp lý do nam, nữ trước khi kết hôn hoặc vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tự nguyện cam kết, xác lập nhằm điều chỉnh quyền, nghĩa vụ sở hữu, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tài sản chung, tài sản riêng và trách nhiệm tài sản đối với các nhu cầu chung của gia đình và giao dịch với người thứ ba".
- Lý thuyết Trật tự Công cộng và Đạo đức Xã hội (Public Policy Exception): Thiết lập biên giới pháp lý (boundary conditions) để kiểm soát nội dung thỏa thuận, bảo đảm quyền được cấp dưỡng, quyền thừa kế không thể bị tước đoạt của cha mẹ, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
- Lý thuyết Bảo vệ Bên thứ ba ngay tình (Protection of Bona Fide Third Parties): Xây dựng cơ chế công khai hóa (publicity regime) CĐTS nhằm giảm thiểu chi phí giao dịch và ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ dân sự.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng lập trường nhận thức luận Hiện thực phản biện (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền sở hữu tài sản công dân. Thiết kế nghiên cứu hỗn hợp đa tầng (Multi-level Mixed Methods Design) kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu quy phạm pháp lý (doctrinal research), luật học so sánh (comparative law) và xã hội học pháp luật thực nghiệm (empirical socio-legal research).
Quy trình nghiên cứu rigorous
- Phương pháp nghiên cứu văn bản quy phạm và so sánh pháp luật:
- Phân tích tiến trình lập pháp Việt Nam qua các cột mốc: Thời kỳ phong kiến (Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ), thời kỳ Pháp thuộc (Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936), thời kỳ 1954–1975 ở miền Nam (Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64, BLDS 1972) và các đạo luật HN&GĐ 1959, 1986, 2000, 2014.
- Đối chiếu quy định của 5 hệ thống pháp luật điển hình: Pháp (Dân luật 1804/1965), Úc (Đạo luật Gia đình 1975 - Family Law Act 1975, sửa đổi năm 2000 bổ sung Part VIIIA Điều 90B-90K và sửa đổi năm 2008), Hoa Kỳ (UMPA), Thái Lan (Điều 1466 Bộ luật Dân sự và Thương mại) và Trung Quốc (Điều 19 Luật Hôn nhân 2001).
- Phương pháp điều tra xã hội học (Sociological Survey):
- Triển khai phiếu khảo sát trực tuyến và trực tiếp trên diện rộng về nhận thức và nhu cầu áp dụng CĐTS theo thỏa thuận tại các đô thị lớn (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng).
- Thiết kế các nhóm câu hỏi đo lường từ Biểu đồ 3.1 đến Biểu đồ 3.7 nhằm kiểm định các biến số: tình trạng hôn nhân, mức độ hiểu biết quy định, nguồn tiếp cận thông tin, mức độ dễ hiểu của văn bản luật, lý do lựa chọn hoặc không lựa chọn CĐTS ước định, và mức độ cần thiết của việc hoàn thiện thể chế.
- Phương pháp phỏng vấn sâu chuyên gia (In-depth Expert Interviews):
- Phỏng vấn bán cấu trúc nhóm chuyên gia gồm: Thẩm phán TAND các cấp, Kiểm sát viên VKSND, Công chứng viên các Văn phòng công chứng (VPCC) tại Hà Nội và TP.HCM, Luật sư thuộc Liên đoàn Luật sư Việt Nam và các nhà nghiên cứu luật học tại các viện, trường đại học.
- Phương pháp tổng kết thực tiễn xét xử và phân tích tình huống (Case Law & Jurisprudence Analysis):
- Thống kê, trích lục và mổ xẻ các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp tài sản thực tế của Tòa án giai đoạn 2018–2022 để chỉ ra xung đột trong việc công nhận hiệu lực văn bản thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân và thỏa thuận phân chia tài sản sau khi có bản án ly hôn.
Data và phân tích
Dữ liệu khảo sát xã hội học và phỏng vấn chuyên gia được xử lý bằng phương pháp phân tích thống kê mô tả và phân tích định tính chuyên sâu. Các kiểm định độ tin cậy của bảng hỏi và tính đại diện của mẫu khảo sát bảo đảm tính xác thực khoa học cao:
- Dữ liệu thực nghiệm phản ánh trung thực nguyên nhân chính yếu khiến CĐTS theo thỏa thuận chưa đi vào cuộc sống: rào cản tâm lý e ngại tổn thương tình cảm gia đình, sự phức tạp của thủ tục công chứng, và sự thiếu vắng quy định cho phép ký kết thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân.
- Khảo sát chuyên gia chỉ ra 100% Thẩm phán và Công chứng viên được phỏng vấn đồng thuận rằng quy định tại Điều 47 Luật HN&GĐ 2014 (chỉ cho phép lập thỏa thuận trước khi kết hôn) là một rào cản kỹ thuật bất hợp lý cần được dỡ bỏ.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án mang lại 5 phát hiện mang tính đột phá về mặt khoa học pháp lý:
-
Điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp về thời điểm xác lập (Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014):
Quy định bắt buộc: "Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn CĐTS theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn" đã triệt tiêu quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Thực tiễn xét xử cho thấy xuất hiện nhiều dạng thỏa thuận "biến tướng" như văn bản cam kết tài sản riêng, văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoặc thỏa thuận chia tài sản sau ly hôn, khiến Tòa án lúng túng khi xác định hiệu lực pháp lý (xem là thỏa thuận CĐTS sai thời điểm dẫn đến vô hiệu hay là giao dịch dân sự hợp pháp).
-
Nghịch lý áp dụng quy định hình thức giao dịch dân sự vô hiệu (Điều 129 BLDS năm 2015):
Điều 50 Luật HN&GĐ 2014 quy định thỏa thuận CĐTS vô hiệu nếu không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của GDDS theo BLDS. Tuy nhiên, nếu áp dụng Điều 129 BLDS 2015 để công nhận hiệu lực thỏa thuận vi phạm hình thức công chứng khi đã thực hiện "2/3 nghĩa vụ", pháp luật hoàn toàn bất khả thi trong việc định lượng 2/3 nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân kéo dài, vốn không định lượng trước được giá trị tài sản tạo lập tương lai.
-
Khoảng trống pháp lý khi hôn nhân bị hủy do kết hôn trái pháp luật:
Luật HN&GĐ 2014 hoàn toàn bỏ ngỏ hệ quả pháp lý của thỏa thuận CĐTS khi việc kết hôn bị Tòa án hủy do trái pháp luật. Do thỏa thuận chỉ phát sinh hiệu lực tại thời điểm đăng ký kết hôn hợp pháp, khi hôn nhân bị hủy thì quan hệ vợ chồng không phát sinh, dẫn đến tình trạng khoảng trống pháp lý trong việc xử lý khối tài sản đã được thỏa thuận trước đó.
-
Sự thiếu vắng cơ chế pháp lý về Chấm dứt Chế độ tài sản theo thỏa thuận:
So sánh với Điều 90J Đạo luật Gia đình Úc 1975 (quy định thỏa thuận chấm dứt khi ký thỏa thuận mới hoặc có văn bản thỏa thuận chấm dứt), pháp luật Việt Nam chưa có điều khoản chuyên biệt nào quy định các căn cứ và hệ quả pháp lý của việc chấm dứt CĐTS ước định trong thời kỳ hôn nhân khi vợ chồng muốn quay trở lại CĐTS luật định.
-
Quy chuẩn mơ hồ về "Vi phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp" (Điều 50 Luật HN&GĐ 2014):
Khái niệm "vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền thừa kế" chưa được giải thích thấu đáo, phụ thuộc vào hướng dẫn liệt kê ví dụ đơn lẻ tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, gây ra sự thiếu thống nhất trong hoạt động xét xử của Tòa án các cấp.
Implications đa chiều
- Về mặt lập pháp: Cung cấp luận cứ vững chắc để sửa đổi toàn diện Luật HN&GĐ năm 2014, bãi bỏ giới hạn thời điểm xác lập tại Điều 47, cho phép vợ chồng lập, sửa đổi, bổ sung hoặc chấm dứt thỏa thuận CĐTS ở bất kỳ thời điểm nào (trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân).
- Về kỹ thuật công chứng và hộ tịch: Đề xuất thiết lập cơ chế đăng ký và lập sổ bộ quản lý thỏa thuận CĐTS tại cơ quan đăng ký hộ tịch hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu công chứng liên thông quốc gia nhằm minh bạch hóa quyền tài sản đối với bên thứ ba.
- Về thực tiễn xét xử: Định hình án lệ và hướng dẫn áp dụng thống nhất các căn cứ tuyên bố thỏa thuận vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần, bảo vệ tối đa quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và người thứ ba ngay tình.
Limitations và Future Research
Hạn chế của luận án:
- Giới hạn mẫu thực nghiệm không gian: Mặc dù khảo sát xã hội học được thực hiện trên quy mô lớn, đối tượng phản hồi tập trung nhiều hơn ở khu vực đô thị phát triển (Hà Nội, TP.HCM), nơi có trình độ dân trí và khối tài sản cá nhân cao hơn vùng nông thôn.
- Khó khăn trong tiếp cận án lệ có áp dụng CĐTS thỏa thuận: Do tỷ lệ xác lập CĐTS ước định trên thực tế còn thấp, các bản án giải quyết trực tiếp về loại CĐTS này còn hạn chế; phần lớn tranh chấp trên thực tế vẫn xoay quanh phân chia tài sản theo CĐTS luật định hoặc các văn bản cam kết đơn phương trong thời kỳ hôn nhân.
Định hướng nghiên cứu tương lai (10-Year Research Agenda):
- Nghiên cứu tác động của CĐTS thỏa thuận đối với các loại hình tài sản mới: tài sản kỹ thuật số, tiền mã hóa, cổ phần doanh nghiệp khởi nghiệp (start-up equity) và quyền sở hữu trí tuệ của vợ chồng.
- Nghiên cứu cơ chế tương trợ tư pháp quốc tế và giải quyết xung đột pháp luật đối với thỏa thuận tài sản hôn nhân có yếu tố nước ngoài theo tư pháp quốc tế Việt Nam.
- Khảo sát tác động tâm lý - xã hội học hành vi dài hạn đối với tính bền vững của quan hệ hôn nhân khi các cặp vợ chồng áp dụng chế độ phân sản tuyệt đối.
Tác động và ảnh hưởng
- Ảnh hưởng học thuật: Tạo tiền đề lý luận chuẩn mực cho giáo trình giảng dạy sau đại học chuyên ngành Luật Dân sự và HN&GĐ tại Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp và các cơ sở đào tạo luật trên toàn quốc; dự kiến thu hút trích dẫn khoa học cao trong các công trình nghiên cứu lập pháp tiếp theo.
- Tác động lập pháp và chính sách: Trực tiếp đóng góp tài liệu tham khảo có giá trị cao cho Ban Soạn thảo sửa đổi Luật HN&GĐ trong tương lai, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và Bộ Tư pháp trong việc rà soát hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dân sự.
- Tác động xã hội và thị trường giao dịch: Thúc đẩy nhận thức tiến bộ của xã hội về quyền tự chủ tài chính cá nhân, xóa bỏ định kiến tâm lý đối với thỏa thuận tiền hôn nhân, giảm thiểu các vụ án tranh chấp tài sản ly hôn kéo dài và bảo đảm an toàn pháp lý tuyệt đối cho các tổ chức tín dụng, bên thứ ba khi giao dịch với vợ chồng.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận một khung phân tích toàn diện, hệ thống tư liệu so sánh quốc tế phong phú và định vị rõ các khoảng trống lý luận về quyền tự chủ tư trong luật gia đình.
- Cơ quan Lập pháp và Cơ quan Quản lý Nhà nước: Sở hữu hệ thống luận cứ khoa học, các dự thảo điều khoản sửa đổi Luật HN&GĐ và Nghị định hướng dẫn chi tiết nhằm nâng cao tính khả thi của thể chế.
- Thẩm phán, Kiểm sát viên và Luật sư: Nắm vững phương pháp luận và chuẩn mực pháp lý để định lượng, đánh giá tính hợp pháp, hiệu lực và cách thức phân định nghĩa vụ tài sản khi giải quyết tranh chấp.
- Công chứng viên và Tổ chức hành nghề công chứng: Được trang bị cẩm nang phân tích nghiệp vụ, các điều kiện vô hiệu và quy trình tư vấn, soạn thảo văn bản thỏa thuận CĐTS an toàn, phòng ngừa rủi ro pháp lý.
- Công chúng và Các cặp đôi kết hôn: Nâng cao ý thức pháp luật về quản trị tài chính gia đình minh bạch, văn minh, bảo vệ quyền lợi chính đáng của bản thân và con cái.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng học thuyết nào?
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc phát triển và địa phương hóa Thuyết Quyền tự chủ tư (Private Autonomy Theory) trong quan hệ hôn nhân gia đình Việt Nam. Luận án đã mở rộng học thuyết bằng cách xác lập cấu trúc "nhị nguyên biện chứng": chứng minh thỏa thuận tài sản vợ chồng là một hợp đồng dân sự đặc thù (sui generis), trong đó quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân không tách rời mà phải vận hành song song với các nghĩa vụ nhân thân gia đình, bảo đảm tính cộng đồng của hôn nhân không bị triệt tiêu bởi chủ nghĩa cá nhân ích kỷ.
2. Điểm đổi mới về phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây là gì?
So với các công trình thuần túy nghiên cứu luật thực định trước đây như luận án của Nguyễn Văn Cừ (2005) hay Bùi Minh Hồng (2012), luận án này tạo đột phá bằng việc kết hợp Nghiên cứu quy phạm chuyên sâu với Phương pháp điều tra xã hội học thực nghiệm và Phỏng vấn sâu chuyên gia. Lần đầu tiên, một hệ thống dữ liệu định lượng và định tính về nhận thức thực tế, cùng phân tích thực tiễn công chứng và xét xử giai đoạn 2018–2022 được tích hợp để làm rõ nguyên nhân gốc rễ cản trở việc thực thi chế định này tại Việt Nam.
3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu?
Phát hiện gây bất ngờ nhất là: Mặc dù tỷ lệ người dân thực tế xác lập thỏa thuận trước kết hôn còn rất thấp (<5% theo xu hướng chung khu vực Á Đông), nhưng kết quả khảo sát cho thấy đa số các cặp vợ chồng trẻ đô thị hiện đại ủng hộ mạnh mẽ quyền tự chủ tài chính; nguyên nhân họ không ký thỏa thuận không hẳn do phản đối về mặt tư tưởng, mà do quy định tại Điều 47 Luật HN&GĐ 2014 quá cứng nhắc khi tước bỏ quyền xác lập thỏa thuận trong thời kỳ hôn nhân, kết hợp với việc thiếu vắng các mẫu thỏa thuận quy chuẩn và hướng dẫn chuyên môn từ các Văn phòng công chứng.
4. Luận án có cung cấp quy trình/giao thức chuẩn hóa để nhân rộng nghiên cứu (Replication Protocol) không?
Có. Luận án cung cấp phụ lục hoàn chỉnh bao gồm: (1) Mẫu phiếu khảo sát xã hội học chuẩn hóa về thực trạng áp dụng CĐTS theo thỏa thuận; (2) Bộ khung câu hỏi phỏng vấn sâu bán cấu trúc dành riêng cho Thẩm phán, Kiểm sát viên, Công chứng viên và Luật sư; (3) Báo cáo tổng hợp số liệu và quy trình mã hóa dữ liệu khảo sát, cho phép các nhà khoa học khác dễ dàng tái lặp và mở rộng phạm vi khảo sát ở các địa bàn nghiên cứu khác.
5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?
Luận án vạch ra chương trình nghiên cứu 10 năm tập trung vào 3 hướng chủ đạo: (1) Xây dựng cơ chế pháp lý điều chỉnh tài sản số và tài sản trí tuệ trong thỏa thuận CĐTS vợ chồng; (2) Hoàn thiện thể chế công nhận và thi hành các thỏa thuận hôn sản quốc tế theo các điều ước quốc tế đa phương; (3) Đo lường tác động kinh tế - lượng lượng hóa rủi ro của thỏa thuận phân sản đối với quyền lợi của bên nội trợ gia đình và sự ổn định của quan hệ hôn nhân.
Kết luận
Luận án "Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong pháp luật Việt Nam" của NCS. Nguyễn Thị Lan là một công trình khoa học công phu, chuẩn mực và có đóng góp học thuật vượt trội. Luận án đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 6 kết luận then chốt:
- Khẳng định tính tất yếu khách quan: Việc thừa nhận CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận là đòi hỏi tất yếu của việc tôn trọng quyền con người, quyền tự do định đoạt tài sản theo Hiến pháp năm 2013 và xu thế hội nhập pháp lý quốc tế.
- Giải quyết căn bản xung đột quy phạm: Chỉ rõ sự không tương thích giữa Điều 47, 50 Luật HN&GĐ 2014 với Điều 117, 129 BLDS 2015, đặt nền móng lý luận cho việc xây dựng cơ chế điều chỉnh chuyên biệt cho hợp đồng tài sản gia đình.
- Đề xuất dỡ bỏ rào cản thời điểm xác lập: Khẳng định sửa đổi Điều 47 theo hướng cho phép xác lập thỏa thuận cả trước và trong thời kỳ hôn nhân là giải pháp đột phá nâng cao tính khả thi của chế định.
- Chuẩn hóa chế định vô hiệu và hậu quả pháp lý: Đưa ra tiêu chí cụ thể hóa hành vi "vi phạm nghiêm trọng quyền cấp dưỡng, thừa kế" và bổ sung căn cứ vô hiệu khi quan hệ hôn nhân bị hủy do kết hôn trái pháp luật.
- Xây dựng quy chế chấm dứt CĐTS theo thỏa thuận: Bổ sung các quy phạm minh định về quyền thỏa thuận chấm dứt chế độ ước định để chuyển đổi về chế độ luật định trong thời kỳ hôn nhân.
- Kiến tạo hệ thống công khai hóa tài sản: Đề xuất thiết lập cổng thông tin cơ sở dữ liệu công chứng - hộ tịch liên thông toàn quốc để bảo vệ vững chắc quyền lợi của người thứ ba ngay tình và an toàn pháp lý của các giao dịch kinh tế.