Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam: Nghiên cứu từ luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong pháp luật việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực luật học tại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

246
17
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN

1.1. Khái niệm, đặc điểm chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

1.2. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

1.3. Đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

1.4. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

1.4.1. Cơ sở thực tiễn

1.5. Phân loại chế độ tài sản của vợ chồng. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định

1.6. Ý nghĩa của việc ghi nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

1.7. Sơ lược sự hình thành và phát triển chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong pháp luật Việt Nam

1.7.1. Thời kỳ Phong kiến

1.7.2. Thời kỳ Pháp thuộc

1.7.3. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực

1.7.4. Giai đoạn từ khi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực

1.8. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN

2.1. Nguyên tắc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

2.1.1. Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung

2.1.2. Nguyên tắc vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

2.1.3. Nguyên tắc việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường

2.2. Thời điểm thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

2.3. Hình thức của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

2.4. Nội dung thỏa thuận về tài sản của vợ chồng khi vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận

2.5. Thời điểm có hiệu lực của chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận. Sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

2.6. Chủ thể có quyền sửa đổi, bổ sung nội dung thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

2.7. Hình thức sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

2.8. Hậu quả pháp lý của việc sửa đổi, bổ sung nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

2.9. Các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vô hiệu. Chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

2.10. Hậu quả pháp lý của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

2.11. Chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

2.11.1. Do một bên vợ, chồng đã chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết

2.11.2. Do ly hôn

2.11.3. Các trường hợp khác

2.12. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THỎA THUẬN

3.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận

3.2. Thực trạng nhận thức về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

3.3. Thực tiễn vợ chồng xác lập và thực hiện chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

3.4. Thực tiễn giải quyết các tranh chấp có áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận tại Toà án

3.5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

3.5.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

3.5.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận

3.6. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

MẪU PHIẾU KHÁO SÁT THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THOẢ THUẬN TẠI VIỆT NAM

MẪU PHIẾU PHỎNG VẤN CÁC CHUYÊN GIA VỀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THOẢ THUẬN TẠI VIỆT NAM

BÁO CÁO PHÂN TÍCH KẾT QUẢ KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG THEO THOẢ THUẬN TẠI VIỆT NAM

BÁO CÁO TỔNG HỢP Ý KIẾN PHỎNG VẤN CHUYÊN GIA

MỘT SỐ BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH VỤ VIỆC THỰC TẾ VỀ TRANH CHẤP TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận

Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận là một chế định pháp lý quan trọng trong pháp luật Việt Nam, cho phép vợ chồng tự do thỏa thuận về việc quản lý, sử dụng và phân chia tài sản trong hôn nhân. Khái niệm này được định nghĩa là sự thống nhất ý chí giữa vợ và chồng trong việc xác lập các quyền và nghĩa vụ tài sản. Đặc điểm nổi bật của chế độ này là tính tự nguyện, linh hoạt và phù hợp với nhu cầu thực tế của từng cặp vợ chồng. Luận án tiến sĩ này nhấn mạnh rằng, chế độ tài sản theo thỏa thuận không chỉ bảo vệ quyền lợi tài sản của vợ chồng mà còn góp phần giảm thiểu tranh chấp trong hôn nhân.

1.1. Cơ sở lý luận và thực tiễn

Cơ sở lý luận của chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận dựa trên nguyên tắc tự do ý chí và quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân. Pháp luật Việt Nam ghi nhận quyền này trong Hiến pháp 2013 và Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Thực tiễn cho thấy, việc áp dụng chế độ này còn hạn chế do thiếu hiểu biết pháp lý và sự cứng nhắc trong quy định. Luận án tiến sĩ phân tích rằng, cần nâng cao nhận thức pháp luật và hoàn thiện các quy định để tăng tính khả thi của chế độ này.

1.2. Phân loại chế độ tài sản

Chế độ tài sản vợ chồng được phân thành hai loại chính: chế độ tài sản chungchế độ tài sản riêng. Chế độ tài sản theo thỏa thuận cho phép vợ chồng kết hợp cả hai loại này một cách linh hoạt. Luận án tiến sĩ chỉ ra rằng, sự linh hoạt này giúp vợ chồng quản lý tài sản hiệu quả hơn, đặc biệt trong các trường hợp có tài sản riêng lớn hoặc kinh doanh độc lập.

II. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng

Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận trong Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng còn nhiều bất cập. Luận án tiến sĩ chỉ ra rằng, số lượng cặp vợ chồng lựa chọn chế độ này rất ít, chủ yếu do thiếu hiểu biết pháp lý và sự phức tạp trong thủ tục. Ngoài ra, các quy định về thời điểm thỏa thuận, hình thức và hiệu lực của thỏa thuận còn chưa rõ ràng, dẫn đến nhiều tranh chấp pháp lý.

2.1. Thời điểm và hình thức thỏa thuận

Theo pháp luật Việt Nam, thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng phải được lập trước khi kết hôn và được công chứng, chứng thực. Luận án tiến sĩ phân tích rằng, quy định này hạn chế tính linh hoạt của chế độ, vì nhiều cặp vợ chồng chỉ nghĩ đến việc thỏa thuận sau khi kết hôn. Ngoài ra, việc không tuân thủ hình thức thỏa thuận có thể dẫn đến vô hiệu, gây khó khăn trong giải quyết tranh chấp.

2.2. Tranh chấp và giải quyết tranh chấp

Tranh chấp về tài sản vợ chồng thường phát sinh khi thỏa thuận không rõ ràng hoặc vi phạm quy định pháp luật. Luận án tiến sĩ đánh giá rằng, các quy định hiện hành chưa đủ chi tiết để giải quyết các tranh chấp phức tạp, đặc biệt là liên quan đến tài sản riêng và tài sản chung. Cần bổ sung các quy định cụ thể về phân chia tài sản và hậu quả pháp lý khi thỏa thuận vô hiệu.

III. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Luận án tiến sĩ đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận. Cụ thể, cần mở rộng thời điểm thỏa thuận, cho phép vợ chồng thỏa thuận cả trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, cần quy định rõ ràng hơn về hình thức thỏa thuận và các trường hợp vô hiệu. Luận án cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức pháp lý cho người dân để tăng tính khả thi của chế độ này.

3.1. Mở rộng thời điểm thỏa thuận

Luận án tiến sĩ kiến nghị cho phép vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản không chỉ trước khi kết hôn mà cả trong thời kỳ hôn nhân. Điều này giúp tăng tính linh hoạt và phù hợp với thực tế cuộc sống. Ngoài ra, cần quy định rõ ràng về hiệu lực của các thỏa thuận được lập trong thời kỳ hôn nhân để tránh tranh chấp.

3.2. Hoàn thiện quy định về hình thức

Luận án tiến sĩ đề xuất bổ sung các quy định chi tiết về hình thức thỏa thuận, bao gồm cả việc công chứng và chứng thực. Đồng thời, cần quy định rõ các trường hợp thỏa thuận vô hiệu và hậu quả pháp lý để đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong giải quyết tranh chấp.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Chương 2: Thực trạng pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận. 7 PHẦN TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước liên quan đến đề tài - Anne Sanders, “Private autonomy and marital property agreements”1, The International and Comparative Law Quarterly, Vol.

Sau phán quyết của Toà phúc thẩm trong vụ RAdmacher v Granatino, câu hỏi được đặt ra liệu luật pháp của Anh có nên đưa ra các thoả thuận tài sản tiền hôn nhân? Bài viết lập luận ủng hộ việc đưa ra các thoả thuận tiền hôn nhân. Thông qua cách tiếp cận so sánh, bài viết giải thích cách các thoả thuận tiền hôn nhân được sử dụng ở Đức và chứng minh xuất phát từ quyền tự chủ cá nhân được coi là cơ sở của các thoả thuận tiền hôn nhân từ thế kỷ thứ XIX2. Bài viết còn đưa ra những lợi ích của các thỏa thuận và thảo luận về việc liệu các thỏa thuận tiền hôn nhân có vi phạm các chính sách công hay không.Debele and Susan C.Rhode, “Prenuptial Agreement in the United States”, tại https://www.com/media/1169/prenuptial_agreements_in_the_us. Bài viết nghiên cứu một cách tổng quan, cơ bản về một số vấn đề pháp luật Mỹ đối với CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận (hay còn gọi là chế độ hôn ước).

Theo đó, trong lịch sử pháp luật của Hoa Kỳ, chế độ hôn ước từng không được Tòa án công nhận bởi tòa án xem các hôn ước này như là một thỏa thuận ly hôn, vì vậy việc lập các hôn ước vô tình đã khuyến khích các cặp vợ chồng ly hôn. Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển, sự giao thoa giữa các nền văn hoá, pháp luật về chế độ hôn ước đã thay đổi nhanh chóng và phức tạp hơn. Ngày nay, chế độ hôn ước đang ngày càng phổ biến mạnh mẽ ở nước Mỹ. Nếu như trong quá khứ, hầu hết mọi người lập hôn ước khi một người đàn ông giàu có kết hôn với một người phụ nữ trẻ nhưng kém giàu có hơn, thì ở thời điểm hiện tại, độ tuổi trung bình theo đuổi chế độ hôn ước đã giảm xuống do nhiều nam giới và nữ giới đã gây dựng sự nghiệp, và tích lũy được tài sản và thu nhập ngay từ khi còn rất trẻ, do đó họ có nhu cầu muốn bảo vệ khối tài sản của mình khi ly hôn hoặc khi chết.org/stable/40835425?Search=yes&resultItemClick=true&searchText=matrimonial&searchTe xt=property&searchText=agreements&searchUri=%2Faction%2FdoBasicSearch%3FQuery%3Dmatrimonial%2 Bproperty%2Bagreements%26amp%3Bfilter%3D&ab_segments=0%2Fbasic_SYC- 5187%2Fcontrol&refreqid=search%3A89486985ce99b24c8f1e02ba16b24650&seq=1 2 “Adopting a comparative approach, the article explains how such agreements are used in Germany and demonstrates that the idea of private autonomy, which has been regarded as the basis of pre-nuptial property agreements in Germany since the 19 th century…” 8 Ngoài ra, bài viết còn cung cấp khái quát về các yêu cầu đối với hôn ước cũng như việc lựa chọn pháp luật áp dụng khi xảy ra tranh chấp hay khi xem xét tính có hiệu lực của hôn ước có yếu tố nước ngoài.

Việc áp dụng pháp luật và các thủ tục nước ngoài đối với các thỏa thuận đến phạm vi nào là do các bang tự quyết định. - Nicolas Prémeaux, Marion Leturcq, “Prenuptial agreements and matrimonial property regimes in France 1855-2010”, Exploration in Economic History, 11/2017. Bài viết nghiên cứu về thỏa thuận tiền hôn nhân cũng như CĐTS trong hôn nhân ở Pháp trong giai đoạn từ 1855 – 2010. Trước hết, tác giả trình bày tiến trình phát triển của thỏa thuận tiền hôn nhân từ 1855 – 2010, theo đó khoảng 40% các cặp vợ chồng mới cưới đã ký thỏa thuận tiền hôn nhân vào năm 1855, nhưng tỷ lệ này giảm xuống còn ít hơn 10% sau khi cải cách CĐTS trong hôn nhân vào năm 1965.

Nó đã trải qua một sự trỗi dậy sau khi áp dụng ly hôn không có lỗi vào năm 1975 và khoảng 18% các cặp vợ chồng mới cưới đã ký một thỏa thuận chung vào năm 2010. Đồng thời bài viết chỉ ra ba nguyên nhân chính về tiến trình phát triển: Thứ nhất, là do sự khác biệt về văn hóa giữa các vùng miền; Thứ hai, là do mối quan hệ giữa tiến trình phát triển của thỏa thuận tiền hôn nhân với tiến trình phát triển của của hồi môn và; Thứ ba là do sự gia tăng tỷ lệ các cặp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản. Ở Pháp, khi một cặp đôi kết hôn, họ có thể thỏa thuận tiền hôn nhân hoặc không. Các thỏa thuận tiền hôn nhân sẽ xác định quyền tài sản của mỗi người trong tài sản của vợ chồng, trong đó bao gồm 4 thông tin: CĐTS trong hôn nhân, danh mục tài sản của vợ và của chồng, khoản thanh toán từ của hồi môn nếu có và các điều khoản về nguyên tắc áp dụng đối với tài sản gia đình nếu một người vợ hoặc chồng chết, và phải được ký kết ở văn phòng công chứng.

Nếu không thỏa thuận, các cặp vợ chồng sẽ áp dụng CĐTS trong hôn nhân mặc định. Từ bộ luật Dân sự 1804 đến cuộc cải cách về CĐTS trong hôn nhân năm 1965, các thỏa thuận tiền hôn nhân đã được sử dụng để hạn chế khả năng quản lý tài sản chung của người chồng. Chế độ mặc định về tài sản chung của vợ chồng đều coi hầu hết tài sản là tài sản chung, do đó đã tạo ra sự mất cân bằng lớn giữa vợ và chồng. Bởi lẽ người chồng có thể quản lý và thậm chí là bán tài sản chung mà không cần có sự chấp thuận của người vợ, đồng thời còn có quyền quản lý cả tài sản riêng của mình và của vợ.

Trái lại, người vợ cần phải có sự đồng ý của chồng mới có thể đem bán những tài sản riêng của mình. Ngoài ra, thỏa thuận tiền hôn nhân còn ảnh hưởng đến các quy định về quyền thừa kế. Cho đến cuối thế kỉ XIX, người vợ (chồng) còn sống không được xếp vào hàng thừa kế của người chồng (vợ) đã qua đời. Các thỏa thuận này đã cho phép bao gồm cả những điều khoản bảo vệ lợi ích cho người vợ (chồng) còn sống – được quyền hưởng tài sản của người chồng (vợ) đã chết theo những tỷ lệ khác nhau ở những thời gian khác nhau.

9 - Bài viết: “Prenuptial Agreement in China” truy cập tại https://www.com/prenuptial-agreements-in-china, bài viết trình bày về một số quy định về thỏa thuận tiền hôn nhân ở Trung Quốc, theo Điều 19 Luật hôn nhân 2001 quy định: “Cho đến khi tài sản được tạo ra trong thời gian ký hợp đồng về hôn nhân và các tài sản tiền hôn nhân được công nhận, vợ chồng có thể thỏa thuận liệu họ nên sở hữu riêng, sở hữu chung hay sở hữu riêng một phần và sở hữu chung một phần. Thỏa thuận phải được lập thành văn bản. Các quy định trong Điều 17 và Điều 18 của Luật này được áp dụng cho các trường hợp không có thỏa thuận đó hoặc với một điều khoản không rõ ràng. Thỏa thuận về tài sản có được trong thời gian hợp đồng hôn nhân và tài sản tiền hôn nhân có giá trị ràng buộc cả hai bên.

Nếu người chồng và vợ đồng ý, mà có bên thứ ba đã biết về việc sở hữu riêng tài sản được tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, thì nghĩa vụ nợ của chồng hoặc vợ với bất kỳ người nào khác, sẽ phải được trả hết bằng tài sản riêng của anh ấy hoặc cô ấy”. Năm 2003, Tòa án Tối cao Trung Quốc đã quy định những loại tài sản được coi là đối tượng của các thỏa thuận tiền hôn nhân bao gồm thu nhập từ các khoản đầu tư của một bên, trợ cấp nhà ở, bảo hiểm, trợ cấp thất nghiệp và các khoản thu nhập từ quyền sở hữu trí tuệ. - Cheng Yingqi, 2011, Survey: Chinese reluctant about prenups, Chinadaily, truy cập tại https://www.cn/china/2011-05/12/content_12493357. Khảo sát thống kê tỷ lệ các cặp vợ chồng ở Trung Quốc áp dụng CĐTS của vợ chồng theo thỏa thuận trước khi kết hôn và tỷ lệ số cho thấy dưới 5% các cặp vợ chồng ở các thành phố cấp một của Trung Quốc đã ký thỏa thuận trước khi kết hôn và gần 90% những người chưa kết hôn không thích ý tưởng thoả thuận về tài sản trước khi kết hôn.

- Bài viết “Prenuptial Agreements in Japan” xem tại https://www.com/prenuptial_agreements_in_japan truy cập ngày 25/8/2021. Bài viết nghiên cứu vấn đề về thỏa thuận tiền hôn nhân tại Nhật Bản. Theo đó, những thỏa thuận tiền hôn nhân không quá phổ biến ở Nhật Bản hiện nay, bởi lẽ nó không phải là văn hóa của người Nhật. Tuy vậy, Nhật Bản cũng đã công nhận về tính pháp lý của những thỏa thuận này.

Đạo luật những nguyên tắc chung khi áp dụng luật đã cho phép các cặp vợ chồng kết hôn ở Nhật Bản được quyền lựa chọn chế độ luật hôn nhân sẽ chi phối cuộc hôn nhân của họ, với điều kiện đó là luật của quốc gia của vợ hoặc chồng, hoặc luật nơi họ thường trú, hoặc về bất động sản, được áp dụng luật về vị trí của bất động sản. Luật pháp Nhật Bản cũng công nhận hiệu lực của các thỏa thuận tiền hôn nhân được tạo ra theo quy định của luật nước ngoài và quy định điều khoản về việc đăng ký cho các thỏa thuận tiền hôn nhân nước ngoài ở Nhật Bản. Bộ luật dân sự Nhật Bản cũng bao gồm những quy định quan trọng cho phép thỏa thuận tiền hôn nhân. 10 - Robkun Rayanakorn,1990, “Women and the law in Thailand an Canada”, p.

6, Working Paper series Thai studies project Women in development Consortium in Thailand Institutional linkage program funded by Canadian International Development Agency. Tác giả chỉ ra CĐTS của vợ chồng trước hết do bản thân vợ chồng lựa chọn, thỏa thuận, chỉ khi vợ chồng không có hoặc không thỏa thuận một CĐTS nào cho mình thì khi đó mới theo quy định CĐTS theo luật định. Cùng với đó, tác giả chỉ rõ điều kiện có hiệu lực của văn bản thỏa thuận tài sản của vợ chồng, theo đó, các thỏa thuận tiền hôn nhân không có giá trị nếu rơi vào một trong các trường hợp quy định tại Điều 1466 Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan. Thêm vào đó, trong Bài viết, Robkun Rayanakorn, đã nêu lên một số vấn đề khác trong quy định của pháp luật Thái Lan về thỏa thuận CĐTS của vợ chồng như quy định về sửa đổi, bổ sung nội dung của văn bản thỏa thuận tài sản của vợ chồng, quy định về bảo vệ người thứ ba, quy định về việc hủy bỏ văn bản thỏa thuận….

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ với tiêu đề "Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận trong pháp luật Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng, đặc biệt là trong bối cảnh thỏa thuận giữa các bên. Tài liệu này không chỉ phân tích các khía cạnh pháp lý mà còn nêu rõ những lợi ích và thách thức mà các cặp vợ chồng có thể gặp phải khi áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức thực hiện và bảo vệ quyền lợi của mình trong mối quan hệ hôn nhân, từ đó giúp họ đưa ra quyết định sáng suốt hơn trong việc quản lý tài sản chung.

Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Nguyên tắc của chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các nguyên tắc cơ bản trong chế độ tài sản vợ chồng. Bên cạnh đó, tài liệu Chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất thực tiễn áp dụng tại toà án nhân dân quận Thanh Xuân sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc chia tài sản chung. Cuối cùng, tài liệu Nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về các nghĩa vụ tài chính trong mối quan hệ hôn nhân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về chế độ tài sản vợ chồng trong pháp luật Việt Nam.