Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUAN HE KET HON CÓ YEU TÓ NƯỚC NGOÀI 11. Khái quát về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. 1 “Khái niệm quan hệ kết hôn có yếu to nước ngoài Hôn nhân là một hiện tương xã hội. Do vậy, việc nam nữ lẫy nhau thành vợ chdng luôn là vấn để của moi thời đại Lich sử sã hôi loài người đã chứng minh tổng, khi chưa có Nha nước, mọi quan hệ xã hội đều được điểu chỉnh bằng những “guy ước” nhất định nhằm đăm bao trật tư xã hội.
Sự liên kết giữa người dan ông va din bà cũng được điều chỉnh bối các quy ước được hình thánh mét cách tự nhiên. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của ché độ tư hữm và cũa Nhà nước" Ang-ghen đã chứng minh rằng ở thời kỷ tiên sở, để duy tri điện cắm đoán quan hệ tinh giao những “guy ước” hết sức tự nhiên đã được hình thành trong zã hội thí tộc. Nhữ đó, việc cầm đoán quan hệ tính giao giữa cha me với các con, ông ba với các cháu, giữa anh chị em với nhau được tuân thủ. Sự xuất hiện của “gia dinh iu “gia đình pu-ne-lu-an” hay “gia đình đốt ngẫu" hoàn toàn chiu sư phối của các quy luật tự nhiên Hình thái HN&GĐ một vợ, một chồng ra đời đã đánh dầu một bước tiền mới trong lịch sử zã hội loài người.
Bước ngoặt ấy cho thấy rằng, gia đính một vợ mét chồng xuất hiển không chi đơn thuần do sự dao thải tư nhiên thuần túy mà đã có sự tac đồng của các quy luật 28 hội. Khi 2 hôi cỏ sự phân công lao động sâu sắc, của cải dư thừa xuất hiền đã dẫn đến sự hình thành chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu chỉnh là nguồn gốc cho sự xuất hiện cia “Nhà nước” và "Gia đinh một vo. một chỗng" Khi Nha nước xuất hiện, ngoải những quy ước của cuộc sống công đẳng, các quan hé xế hội còn được điều chỉnh bằng pháp luật Dưới góc đô pháp lý việc nam, nữ lấy nhau thành vo, chẳng phụ thuộc vào việc thừa nhân của Nha nước thông qua một nghỉ thức cụ thể được ghi nhân trong pháp luật.
Nghỉ thức kết hôn được thừa nhận trong pháp luật được chỉ phối bởi phong tục, tập quán cũng như truyền thong lập pháp của mỗi quốc gia. Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chống Vi vay, trong việc xác lập quan hệ vợ ° chẳng ngoài ý chi của người kết hôn luôn phải có sự thừa nhân của Nhà nước. Ở phương điên nay, sự thừa nhận của Nha nước là một dim bảo vẻ pháp lý để quyển lợi của người kết hôn được bão vệ bằng pháp luật. Giả thiết rằng căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hé vợ chồng là hành vi pháp lý đơn phương thi chỉ cần hai bên nam nữ tuyên bồ kết hôn đã có di căn cứ làm phát sinh quan hệ vợ chẳng Điểu nay r ring không thể xảy ra.
Bởi vì, viéc kết hôn phải đăng ký trước cơ quan Nha nước có thấm quyền. Vì vậy, việc kết hôn không thé la một hành vi pháp ly đơn phương, Về mặt lý luận, trong khoa học luật, khái niệm kết hôn cẩn được hiểu lả một sử kiện pháp lý lam phát sinh quan hệ vợ chồng. Theo lý luận chung vẻ Nha nước va pháp luật, sự kiện pháp lý có thé la sự kiện pháp lý đơn nhất hoặc sự kiện pháp lý phức hợp. Sự kiện pháp lý lam phát sinh quan hệ vợ chẳng thể hiện.
dưới dạng 1a sự kiện pháp lý phức hop. Trong đó, sư thể hiện ý chi của Nha nước bằng việc thừa nhận quan hệ hôn nhân thông qua việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn lä một sự kiện có tinh chất bắt buộc. Bởi lẽ, không có sự thừa nhân của Nhả nước thì quan hệ hôn nhên không được thừa nhận trước pháp luật. Trên thực tế, sự thể hiện ý chí cia hai người kết hôn mong muôn zác lập quan hệ vợ chéng có thé coi 1a một tuyên bố ý chi đơn phương, xuất phát từ tỉnh cảm tự nhiên hai bên nam nữ mong muốn trở thảnh vợ chẳng, ho chủ động thể hiện ý chi bằng việc nộp Tờ khai đăng ký kết hôn tới cơ quan có thẩm quyển.
Tuy nhiên, tiép nhận Tờ khai đăng ký kết hôn, cơ quan có thẩm quyển phải xem xét và xác minh, chỉ khi hai bên tuân thủ đẩy đủ các điễu kiện kết hôn thi mới cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Quan hệ vợ chẳng của hai bên nam nữ trong trường hợp này mới được thửa nhân trước pháp luật. Vì vậy, sự kiện pháp lý làm phat sinh quan hệ vợ chẳng phải là sự kiện pháp lý phức hợp bao gồm nhiễu sự kiên có tính chất khác nhau, trong đó nhất thiết phải có sư kiện công nhận của cơ quan nha nước có thẩm quyển Nói một cách khác, hai bên nam nữ không thé xác lập quan hệ vợ chồng mà không có su thừa nhận cia cơ quan nhà nước có thấm quyển. Điễu nay hoàn toàn khác với hành vi pháp lý đơn phương bi vì hành vi pháp lý đơn phương không nhất thiết phải có sw công nhân của cơ quan có thẩm quyền van phát sinh hiệu lực pháp lý.
Dưới góc đô khoa học pháp ly, theo tác giã Bùi Thi Mừng cho rằng “Két hin là mot thuật ngit pháp lý được sử dụng trong pháp luật HN&GĐ ding đỗ chỉ căm cứ làm phát sinh: quam hệ pháp luật giữa vo và chẳng, trên cơ số đó quyén và lợi ích của người lắt hn được Nhà nước bảo vộ"3, Như vậy, theo quan điểm trên dưới góc độ pháp lý, kết hôn được nhìn nhận như một sự kiện pháp lý lam phat sinh quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Kết hôn theo quy định của pháp luật 1a căn cứ để Nha nước thừa nhận vả bảo vệ các quyển va lợi ích hợp pháp của người kết hôn. Dưới góc độ luật thực định, trong các quyển cơ bản cia công dân, quyền tự. do kết hôn là một quyền rất quan trong được quy định là một quyền nhân thân.
trong Bộ luật dân sự năm 1905, năm 2005 năm 2015 va trong Luật HN&GĐ. Quyển này là cơ sỡ, tiên dé để xác lập, cũng c duy tr hôn nhân hạnh. phúc, bén vững của mỗi cá nhân. Theo đó, công dân đủ độ tudi và các điển kiến.
kết hôn khác có quyên tự do, tu nguyện, tự minh sắc lập quan hệ vo, chẳng Việc kết hôn nêu không dua trên nguyên tắc tự nguyên, bi ép bude, lừa dồi, căn. trở hoặc cưỡng ép. đều không thỏa mãn điều kiện kết hôn va có thé bị từ chối đăng ký kết hôn, huỷ hôn nhân trái pháp luật, bi zử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cửu trách nhiệm hình sự Công ước La Haye 1902 điều chỉnh quan hệ HN&GD có YTNN giữa một số ước trên thé giới: áo, Italia, Rumani,. cũng áp dụng nguyên tắc phổ biển nảy điều chỉnh quan hệ kết hôn có YTNN để giải quyết xung đột pháp luật về điều kiên kết hôn.
Trong đó quy định rõ: Điểu kiện kết hôn sẽ do pháp luật của đương sư quyết dinh Tuy nhiên, dé bảo lưu trat tư công công Công ước quy định: nêu luật quốc tịch của đương s có quy định những điều kiện nào trái với trấ tư công cộng của nước sở tại thi nước si tại có quyển không chấp nhân điều "Bùi Tụ M©ng (015) Chỉ denn teng từ hầu tânà gà đan Vấn tn tin on nin bộc Thờng Bho rệt H ôi Teng 17 " kiện đó. Công ước chỉ quy định nguyên tắc duy nhất giãi quyết xung đột pháp luật la nguyên tắc luật quốc tịch. Trước xu thể hội nhập quốc tế, mở rộng các quan hệ hợp tác va tăng cường, quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam với các nước, các vùng lãnh thé đã va dang phat sinh nhiễu quan hé xã hội mới. Tinh trang công dân Việt Nam ra nước ngoài hoc tập, lao đồng, cur trú và kết hôn với nhau ở nước ngoài hoặc kết hôn.
Với người nước ngoài, người nước ngoái cử trú tại Việt Nam có nhu cầu kết hôn tai cơ quan có thấm quyền của Việt Nam đã và đang trở thành hiện tượng có tính phd biển. Để đáp ứng nhu cầu của xã hội, bão dam thực hiện day đủ quyển tự do kết hôn của công dân Việt Nam cũng như của người nước ngoải, những năm qua Nha nước ta rất quan tâm xây dựng hoàn thiện thể chế, chính sách về quan hệ HN&GĐ có YTNN trong đó có các quy định vẻ kết hôn có YTNN. Theo quy định tại Điều 663 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau: "Quan hệ dân ste cô YTNN là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cả nhân pháp nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư 6 nước ngoài hoặc là quan hê din sự giữa các bên tham gia din là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đối, thực hiện hoặc chẳm đứt quan hệ đỏ xảy ra tat nước ngoài; hoặc quan hệ giữa các bên tham gia đều là công Tiệt Neon, pháp nhân Việt Na nữưng đỗi tương của quan hệ dân sự đỗ 6 nước ngoài "* Luật HN&GD năm 2014 quy định quan hệ HN&GB có YTNN tại khoản 25 Điều 3 như sau: “Quan hệ HN&GD có YINN i nột bên thar gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cưở nước ngoài quan lệ HN&GĐ giữn các bên tham gia là công dân Việt Narn nhnmg căn cứ để thay at, chẳm chit quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đẫn quan hệ đô 6 nước ngoài". Luét HN&GĐ năm 2014 không định nghĩa cu thể vẻ kết hôn có YTNN.
Tuy nhiên Luật lại khẳng định quan hệ HN&GĐ có YTNN là quan hệ HN&GD giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau + Qhốchội 0l) mae an sự 2075, HG Kem Đền 663 ˆ Qiốchội 2014) Ze hu ahaa ga dn nữm 2014 Th Nội Xe on 25 Đến 3 " thường trú tại Việt Nam hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau ma căn cứ để ác lập, thay đỗi, chấm đút quan hệ đỏ theo pháp luật nước ngoải hoặc tai sin liên quan đến quan hệ đỏ ỡ nước ngoài (Khoan 14 Điều 8), "Như vậy, theo các quy định trên, các quan hệ kết hôn được coi là quan hệ kết hôn có YTNN khi có một trong những dấu hiệu sau - Chủ thé trong quan hệ két hôn là người nước ngoài.