Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp mang tên "Định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" do tác giả Đỗ Kim Ngân (MSSV: 451634) thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội, thuộc chuyên ngành Luật Hôn nhân và gia đình, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Minh Hồng (năm 2024).

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả đặt vấn đề từ vai trò nền tảng của gia đình đối với sự phát triển xã hội, trong đó chức năng kinh tế giữ vị trí trọng yếu nhằm duy trì đời sống chung và bảo đảm sự bền vững của quan hệ hôn nhân. Trước khi kết hôn, tài sản của nam, nữ thuộc sở hữu riêng của mỗi người và mỗi bên có toàn quyền tự định đoạt. Tuy nhiên, khi bước vào thời kỳ hôn nhân, quan hệ tài sản được điều chỉnh bởi chế độ tài sản của vợ chồng. Lịch sử lập pháp Việt Nam thời cận đại từng ghi nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận dưới hình thức "Hợp đồng hôn nhân" hoặc "Khế ước hôn nhân" (hôn khế). Dẫu vậy, chế định này vắng bóng trong Luật Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) các năm 1959, 1986 và 2000. Đến Luật HN&GĐ năm 2014, nhà làm luật mới chính thức tái ghi nhận chế độ tài sản theo thỏa thuận bên cạnh chế độ tài sản theo luật định. Sự đổi mới này phù hợp với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Dù các văn bản hướng dẫn thi hành đã được ban hành, tính chất phức tạp của các giao dịch dân sự khiến thực tiễn áp dụng pháp luật về định đoạt tài sản chung của vợ chồng vẫn nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập cho người dân và cơ quan tiến hành tố tụng.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các quy định pháp luật về các dạng định đoạt tài sản chung, các nguyên tắc chi phối và các chế độ tài sản của vợ chồng; chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn áp dụng để đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật. Để hiện thực hóa mục đích trên, văn bản xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Khái quát cơ sở lý luận về định đoạt tài sản chung của vợ chồng.
  2. Phân tích các nguyên tắc chi phối việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, việc định đoạt tài sản chung theo chế độ tài sản thỏa thuận và theo chế độ tài sản luật định; từ đó đánh giá các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014.
  3. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về định đoạt tài sản chung của vợ chồng, chỉ ra khó khăn, vướng mắc phát sinh và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thực thi.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khóa luận tập trung vào các giao dịch định đoạt tài sản chung của vợ chồng, giới hạn phạm vi khảo cứu trong khuôn khổ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết và căn cứ pháp lý dựa trên các quy định thực định của pháp luật Việt Nam hiện hành và các đạo luật có liên quan qua các thời kỳ:

  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:

    • Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Điều 26 về nguyên tắc bình đẳng giới và quyền con người);
    • Bộ luật Dân sự năm 2015 (các quy định về khái niệm tài sản, quyền định đoạt của chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu tại các Điều 192, 193, 194, 195, cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình);
    • Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các điều khoản trọng tâm: Điều 24, 25, 26 về đại diện giữa vợ và chồng; Điều 29 về nguyên tắc chung của chế độ tài sản; Điều 31 về bảo đảm chỗ ở khi định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất; Điều 32 về giao dịch với người thứ ba ngay tình; Điều 33, 34 về căn cứ xác định và đăng ký tài sản chung; Điều 35 về chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; Điều 36 về đưa tài sản chung vào kinh doanh; Điều 38, 40, 42 về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; Điều 47, 48, 50 về chế độ tài sản theo thỏa thuận; Điều 59 đến Điều 64 về giải quyết tài sản khi ly hôn; Điều 66, 67 về giải quyết tài sản khi một bên chết hoặc bị tuyên bố đã chết; Điều 115 về nghĩa vụ cấp dưỡng);
    • Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình (Điều 16, Điều 18 về sửa đổi, bổ sung thỏa thuận tài sản);
    • Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ (Điều 7 về nguyên tắc giải quyết tài sản khi ly hôn);
    • Điều 54 Luật Phá sản năm 2014 (sử dụng đối chiếu thứ tự phân chia tài sản);
    • Luật Hôn nhân và gia đình các năm 1959, 1986, 2000 (sử dụng đối chiếu lịch sử lập pháp).
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng xuyên suốt để bóc tách các yếu tố cấu thành quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng, phân tích nội dung từng điều luật thực định, sau đó tổng hợp thành các luận điểm lý luận và đánh giá có hệ thống.
    • Phương pháp so sánh: Được sử dụng nhằm đối chiếu sự phát triển của pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử (Luật 1959, 1986, 2000 so với Luật 2014); so sánh bản chất giữa hình thức sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng với sở hữu chung theo phần trong luật dân sự; so sánh nguyên tắc chia tài sản hôn nhân với cơ chế phân chia tài sản phá sản doanh nghiệp, từ đó đánh giá tính hợp lý, hợp pháp của quy định hiện hành.
  • Nguồn dữ liệu: Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình chuyên ngành, sách chuyên khảo của các chuyên gia đầu ngành (cuốn sách năm 2008 của TS. Nguyễn Văn Cừ), các bài viết đăng tải trên Tạp chí Luật học (bài viết năm 2002 và 2012 của TS. Nguyễn Văn Cừ, bài viết năm 2002 của ThS. Nguyễn Phương Lan, bài viết năm 2015 của PGS. về thỏa thuận tài sản), đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2008 do ThS. Nguyễn Phương Lan làm chủ nhiệm), các luận văn thạc sĩ luật học (Lã Thị Tuyên 2015, Nguyễn Thị Thu Thủy 2015, Nguyễn Thị Thúy Hồng 2018) và các luận án tiến sĩ luật học (Nguyễn Văn Cừ 2005, Nguyễn Thị Lan 2023).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về định đoạt tài sản chung của vợ chồng

Chương 1 xây dựng khung lý luận căn bản về quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng trong khoa học pháp lý hôn nhân và gia đình:

  • Khái niệm và đặc điểm tài sản chung của vợ chồng: Dẫn chiếu Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp chia tài sản quy định tại khoản 1 Điều 40); tài sản được thừa kế chung hoặc tặng cho chung; quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (trừ trường hợp thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc giao dịch bằng tài sản riêng). Tài sản chung thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia, dùng để bảo đảm nhu cầu gia đình. Về nguyên tắc, khi chưa chia, quyền của mỗi bên đối với khối tài sản là ngang nhau và không phân biệt theo công sức đóng góp hay lao động có thu nhập với lao động trong gia đình.
  • Khái niệm và đặc điểm định đoạt tài sản chung: Căn cứ Điều 192 đến Điều 195 Bộ luật Dân sự năm 2015, định đoạt tài sản chung là việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản, quyết định số phận thực tế và số phận pháp lý của tài sản. Đặc điểm định đoạt tài sản chung gồm: chủ thể duy nhất là cặp vợ chồng hợp pháp; việc định đoạt mang tính tương đối và phụ thuộc lẫn nhau giữa hai bên; mục tiêu hàng đầu là hướng tới bảo đảm lợi ích chung của gia đình; có thể thực hiện trực tiếp hoặc qua cơ chế ủy quyền (ủy quyền công khai minh thị đối với tài sản lớn hoặc ủy quyền mặc nhiên đối với giao dịch sinh hoạt hàng ngày).
  • Các trường hợp định đoạt và căn cứ pháp lý: Định đoạt theo sự thỏa thuận của cả hai bên; định đoạt theo ý chí của một bên (đưa tài sản vào kinh doanh, tài sản giấy tờ đứng tên một người, tài khoản ngân hàng, chứng khoán); định đoạt thể hiện qua các quy định về chia tài sản (chia trong thời kỳ hôn nhân, chia khi một bên chết, chia khi ly hôn). Căn cứ pháp lý xác định nội dung định đoạt dựa trên hai chế độ tài sản: chế độ tài sản theo thỏa thuận (xác lập trước khi kết hôn bằng văn bản công chứng) và chế độ tài sản theo luật định.
  • Ý nghĩa pháp lý: Các quy định về định đoạt tài sản chung góp phần xác định chuẩn mực ứng xử của vợ chồng, bảo đảm lợi ích của gia đình và con cái, bảo vệ người thứ ba ngay tình, thực thi quyền bình đẳng giới và là cơ sở để Tòa án giải quyết các tranh chấp tài sản.

Chương 2: Quy định về định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

Chương 2 tập trung phân tích thực định hệ thống quy tắc điều chỉnh hành vi định đoạt tài sản chung trong Luật HN&GĐ năm 2014:

  • Các nguyên tắc chỉ phối:
    1. Nguyên tắc bình đẳng: Quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật HN&GĐ năm 2014 và Điều 26 Hiến pháp năm 2013; vợ chồng bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động có thu nhập và lao động nội trợ. Giao dịch giá trị lớn đòi hỏi sự thống nhất của cả hai bên; các giao dịch thường nhật phục vụ nhu cầu thiết yếu suy đoán có sự đồng ý mặc nhiên.
    2. Bảo đảm điều kiện đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình: Mọi hành vi định đoạt phải xuất phát từ lợi ích gia đình. Kể cả khi áp dụng chế độ biệt sản hoặc tài sản định đoạt là tài sản riêng nhưng là nơi ở duy nhất của gia đình, người có quyền sở hữu vẫn phải bảo đảm chỗ ở hợp lý cho vợ chồng và con cái theo Điều 31.
    3. Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhau, của gia đình và của người thứ ba: Khoản 3 Điều 29 quy định bên nào xâm phạm quyền lợi hợp pháp thì phải bồi thường thiệt hại. Điều 32 quy định cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình trong các giao dịch liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán hoặc động sản không đăng ký quyền sở hữu.
  • Định đoạt trong chế độ tài sản theo thỏa thuận: Văn bản thỏa thuận phải xác lập trước khi kết hôn, có công chứng hoặc chứng thực; nội dung tuân thủ Điều 48 và không thuộc các trường hợp bị tuyên bố vô hiệu theo Điều 50. Khi sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa thuận, văn bản sửa đổi có hiệu lực từ ngày công chứng hoặc chứng thực (theo Điều 16, Điều 18 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP), đồng thời vợ chồng có trách nhiệm thông báo cho người thứ ba về sự thay đổi đó.
  • Định đoạt trong chế độ tài sản theo luật định:
    • Định đoạt theo sự thỏa thuận của vợ và chồng: Khoản 2 Điều 35 quy định bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng đối với 03 nhóm tài sản: bất động sản; động sản phải đăng ký quyền sở hữu; và tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Khi một bên xác lập giao dịch với người thứ ba thì phải có ủy quyền bằng văn bản hoặc thuộc trường hợp đại diện theo pháp luật (Điều 24, Điều 25, Điều 26).
    • Định đoạt theo ý chí của một bên: Điều 36 cho phép vợ chồng thỏa thuận bằng văn bản có công chứng/chứng thực để một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh và tự mình thực hiện các giao dịch liên quan, nhưng vợ chồng vẫn liên đới chịu trách nhiệm. Điều 32 bảo vệ người thứ ba ngay tình đối với tài sản đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán hoặc động sản không đăng ký quyền sở hữu.
    • Chia tài sản chung:
      • Trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38, 40): Vợ chồng tự thỏa thuận bằng văn bản có công chứng hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 59; phần tài sản chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ đó là tài sản riêng của mỗi bên, phần chưa chia vẫn là tài sản chung.
      • Khi vợ hoặc chồng chết (Điều 66, 67): Tài sản chung được chia đôi; một nửa thuộc về người còn sống quản lý, một nửa là di sản thừa kế của người chết. Khi người bị tuyên bố chết trở về, quan hệ tài sản được khôi phục hoặc giải quyết như khi ly hôn tùy thuộc tình trạng hôn nhân.
      • Khi ly hôn (Điều 59): Ưu tiên thỏa thuận; nếu Tòa án giải quyết thì nguyên tắc chia đôi có xem xét 04 yếu tố: hoàn cảnh gia đình; công sức đóng góp; bảo vệ lợi ích sản xuất kinh doanh và nghề nghiệp; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng (hướng dẫn cụ thể tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT).
Hình thức định đoạt Căn cứ pháp lý Yêu cầu về ý chí Điều kiện hình thức / Thủ tục Trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ ba
Giao dịch tài sản giá trị lớn / nguồn thu nhập chính Khoản 2 Điều 35 Luật HN&GĐ 2014 Bắt buộc có sự đồng thuận của cả hai vợ chồng Thỏa thuận bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực Giao dịch vô hiệu nếu một bên tự ý xác lập, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình được bảo vệ
Giao dịch phục vụ nhu cầu thiết yếu hàng ngày Khoản 1 Điều 29, Điều 30 Luật HN&GĐ 2014 Ý chí của một bên (suy đoán có sự đồng ý của bên kia) Không bắt buộc lập văn bản riêng, giao dịch dân sự thông thường Vợ chồng cùng chịu trách nhiệm liên đới về các nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch
Đưa tài sản chung vào kinh doanh riêng Điều 36 Luật HN&GĐ 2014 Thỏa thuận ủy quyền cho một bên đứng ra kinh doanh Thỏa thuận lập thành văn bản công chứng hoặc chứng thực Vợ chồng vẫn chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ tài sản phát sinh
Giao dịch tài khoản ngân hàng, chứng khoán, động sản không đăng ký Điều 32 Luật HN&GĐ 2014 Do người đứng tên tài khoản hoặc người chiếm hữu định đoạt Ký kết giao dịch trực tiếp theo quy định chuyên ngành Giao dịch có hiệu lực với người thứ ba ngay tình; tranh chấp nội bộ giải quyết riêng
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Điều 38, Điều 40 Luật HN&GĐ 2014 Thỏa thuận của hai vợ chồng hoặc theo phán quyết Tòa án Văn bản thỏa thuận công chứng theo yêu cầu/luật định, hoặc bản án Tòa án Không được nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài chính với người thứ ba
Chia tài sản chung khi một bên chết Điều 66, Điều 67 Luật HN&GĐ 2014 Thỏa thuận phân chia di sản hoặc phân chia theo luật thừa kế Yêu cầu mở thừa kế, thủ tục khai nhận hoặc giải quyết tranh chấp di sản Người thừa kế chịu trách nhiệm trong phạm vi di sản nhận được
Chia tài sản chung khi ly hôn Điều 59 Luật HN&GĐ 2014, TTLT 01/2016/TTLT Thỏa thuận của vợ chồng hoặc yêu cầu Tòa án phân chia Quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án có hiệu lực Tòa án xem xét giải quyết nghĩa vụ với người thứ ba nếu có yêu cầu độc lập

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về định đoạt tài sản chung của vợ chồng và kiến nghị hoàn thiện

Chương 3 trình bày các phát hiện rút ra từ thực tế giải quyết tranh chấp và đưa ra các kiến nghị lập pháp:

  • Thực tiễn giải quyết và áp dụng pháp luật: Tác giả chỉ ra các vướng mắc phổ biến trong quá trình áp dụng Luật HN&GĐ năm 2014, bao gồm khó khăn trong việc xác định tiêu chí "tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình" khi chưa có văn bản hướng dẫn định lượng cụ thể; vướng mắc trong phân định trách nhiệm liên đới đối với các khoản vay do một bên xác lập danh nghĩa phục vụ gia đình nhưng thực tế sử dụng cho mục đích riêng; ranh giới giữa bảo vệ người thứ ba ngay tình tại Điều 32 và bảo vệ quyền sở hữu của người vợ/chồng không đứng tên trong tài khoản chứng khoán, ngân hàng; cũng như các thủ tục công chứng, chứng thực văn bản phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân nhằm ngăn chặn hiện tượng tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ dân sự.
  • Một số kiến nghị hoàn thiện quy định và nâng cao hiệu quả thi hành: Khóa luận đề xuất việc ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể hóa khái niệm tài sản là nguồn sống duy nhất hoặc nguồn thu nhập chủ yếu; xây dựng cơ chế đăng ký và công khai chế độ tài sản của vợ chồng (đặc biệt là chế độ thỏa thuận) để bảo đảm minh bạch trong giao lưu dân sự; hoàn thiện quy định về cơ chế bồi thường khi một bên tự ý định đoạt tài sản chung trái phép; và tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan đăng ký quyền tài sản, tổ chức hành nghề công chứng với Tòa án nhân dân trong việc tra cứu tình trạng tài sản hôn nhân.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ toàn bộ cơ sở lý luận cũng như hệ thống quy phạm thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 điều chỉnh quan hệ định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Công trình đã phân định rành mạch giữa hai cơ chế thực thi quyền định đoạt: định đoạt trong chế độ tài sản theo thỏa thuận (với các yêu cầu khắt khe về thời điểm xác lập trước khi kết hôn, hình thức công chứng và thủ tục sửa đổi theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP) và định đoạt trong chế độ tài sản theo luật định (phân định theo tính chất giá trị tài sản tại Điều 35 và mục đích kinh doanh tại Điều 36).

Về giải pháp đề xuất, tác giả đã đưa ra các kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý và giải pháp thi hành thực tế tập trung vào việc giải thích áp dụng các điều khoản còn có cách hiểu khác nhau (Điều 32, Điều 35, Điều 38) và cơ chế đăng bạ công khai nhằm bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Về đóng góp so với các công trình nghiên cứu đi trước, khóa luận đã tự xác định vị trí nghiên cứu trong tổng quan tình hình nghiên cứu. Trong khi các nghiên cứu trước đây (như các công trình của TS. Nguyễn Văn Cừ năm 2005 và 2008, ThS. Nguyễn Phương Lan năm 2002 và 2008) chủ yếu phân tích quyền sở hữu hoặc hậu quả phân chia tài sản theo Luật HN&GĐ năm 2000; hoặc một số luận văn, luận án gần đây (như luận văn của Lã Thị Tuyên năm 2015, Nguyễn Thị Thu Thủy năm 2015, Nguyễn Thị Thúy Hồng năm 2018 và luận án của Nguyễn Thị Lan năm 2023) chủ yếu đi sâu vào chế độ tài sản theo thỏa thuận; thì khóa luận này đã nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện hành vi "định đoạt" tài sản chung dưới cả hai lăng kính thỏa thuận và luật định trong toàn bộ các giai đoạn: trong thời kỳ hôn nhân, khi đưa vào hoạt động kinh doanh, khi một bên chết và khi ly hôn theo tinh thần của Luật HN&GĐ năm 2014.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu thực tế mà tác giả đã xác định:

  • Về hạn chế: Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát chủ yếu ở các quy định của Luật HN&GĐ năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015, chưa đi sâu giải quyết các xung đột quy phạm phức tạp mang tính liên ngành giữa Luật HN&GĐ với hệ thống Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Các tổ chức tín dụng và Luật Doanh nghiệp trong các giao dịch thế chấp, góp vốn; nguồn dữ liệu thực tiễn tập trung vào phân tích quy định và một số dạng tranh chấp điển hình mà chưa triển khai được các số liệu thống kê bản án định lượng trên phạm vi toàn quốc.
  • Về hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả gợi mở việc mở rộng phạm vi nghiên cứu sang việc theo dõi, tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp đối với các tranh chấp định đoạt tài sản chung của vợ chồng liên quan đến cổ phần, phần vốn góp doanh nghiệp và bất động sản hình thành trong tương lai; đồng thời nghiên cứu so sánh kinh nghiệm lập pháp quốc tế về cơ chế đăng bạ tài sản hôn nhân công khai để hoàn thiện chế định này tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và mục đích chuyên môn cụ thể:

  • Đối với người học và nghiên cứu: Sinh viên chuyên ngành Luật, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình có thể sử dụng công trình để nắm bắt hệ thống lý luận về quyền năng định đoạt tài sản chung, các bước phát triển của chế độ tài sản vợ chồng qua các đạo luật 1959, 1986, 2000 và 2014, cũng như tổng thuật các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này.
  • Đối với người hành nghề pháp luật: Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư có thể tham khảo phần phân tích thực định tại Chương 2 và Chương 3, đặc biệt là các điều kiện áp dụng Điều 32 (giao dịch ngay tình với tài khoản ngân hàng, chứng khoán), Điều 35 (các trường hợp bắt buộc thỏa thuận văn bản), Điều 36 (đưa tài sản vào kinh doanh) và các tiêu chí tính toán công sức đóng góp, lỗi của mỗi bên khi chia tài sản ly hôn theo Điều 59 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT.
  • Đối với công chứng viên và người dân: Cung cấp hướng dẫn pháp lý rõ ràng về điều kiện hình thức, thẩm quyền xác lập văn bản thỏa thuận chế độ tài sản trước khi kết hôn, văn bản chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân và việc sửa đổi, bổ sung thỏa thuận tài sản theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP để phòng ngừa rủi ro tranh chấp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những loại tài sản chung nào bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng khi định đoạt?

Căn cứ khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc định đoạt tài sản chung bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong 03 trường hợp sau đây:

  • Bất động sản;
  • Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
  • Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình (không phụ thuộc vào việc tài sản đó có giá trị lớn hay nhỏ, miễn là nguồn tạo thu nhập chính của gia đình).

2. Người thứ ba ngay tình được bảo vệ như thế nào khi giao dịch tài sản chung đứng tên tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản chứng khoán của một bên vợ hoặc chồng?

Căn cứ khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, trong giao dịch với người thứ ba ngay tình, vợ hoặc chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó. Người thứ ba không bắt buộc phải điều tra về tình trạng hôn nhân hay chế độ tài sản của người ký kết, trừ trường hợp người thứ ba đã được thông báo hoặc pháp luật quy định buộc phải biết mà vẫn cố tình xác lập giao dịch.

3. Quy định về việc một bên vợ hoặc chồng đưa tài sản chung vào hoạt động kinh doanh riêng được thực hiện như thế nào?

Theo quy định tại Điều 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có thể thỏa thuận bằng văn bản (có công chứng hoặc chứng thực) về việc để một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh. Khi có thỏa thuận này, người trực tiếp kinh doanh có quyền tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản đó. Tuy nhiên, bản chất khối tài sản vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng, do đó cả hai vợ chồng vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới đối với các nghĩa vụ tài sản phát sinh từ hoạt động kinh doanh này.

4. Khi một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết, tài sản chung của vợ chồng được xử lý và phân chia theo nguyên tắc nào?

Căn cứ Điều 66 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

  • Bên còn sống có quyền quản lý khối tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp di chúc chỉ định người khác hoặc các đồng thừa kế có thỏa thuận khác;
  • Khi có yêu cầu chia di sản, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi (trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản);
  • Một nửa tài sản thuộc sở hữu riêng của bên còn sống; nửa còn lại là di sản của người đã chết và được phân chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

5. Tòa án căn cứ vào những yếu tố nào để xem xét việc chia đôi tài sản chung của vợ chồng khi giải quyết ly hôn theo luật định?

Căn cứ khoản 2 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, về nguyên tắc tài sản chung được chia đôi nhưng Tòa án phải tính đến 04 yếu tố để điều chỉnh tỷ lệ phân chia cho phù hợp:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung (lao động trong gia đình được coi như lao động có thu nhập);
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Kim Ngân đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và quy định thực định về định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Qua việc phân tích các nguyên tắc bình đẳng, nghĩa vụ bảo đảm nhu cầu thiết yếu và cơ chế bảo vệ người thứ ba ngay tình, công trình đã làm nổi bật điểm mới của luật thực định trong việc dung hòa giữa chế độ tài sản thỏa thuận và chế độ tài sản luật định. Các kết quả nghiên cứu và kiến nghị được trình bày trong khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật, hoạt động công chứng và quá trình giải quyết tranh chấp tài sản tại Tòa án nhân dân.