CHƯƠNG 1. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE NGUYEN TÁC CUA CHE ĐỘ TÀI SAN CUA VO CHONG 1. Khai niệm, đặc điểm nguyên tắc của chế độ tài san của vợ chồng 1. Khái niệm nguyên tắc của chế độ tài sản của vợ chồng Bat kỳ hoạt động có mục đích nào trong cuộc sống cũng đều phải dựa trên cơ sở nguyên tắc nhất định.
Đây chính là tư tưởng và định hướng chủ đạo giúp các chủ thể thực hiện hiệu quả công việc trong một lĩnh vực cụ thể. Nguyên tắc là luận điểm gốc của học thuyết nào đó, tư tưởng chỉ đạo của quy tắc hoạt động hay là niềm tin, quan điểm đối với sự vật và chính quan điểm, niềm tin đó xác định quy tắc hành vi, đồng thời cũng có thể là nguyên lý cấu trúc hoạt động của bộ máy dụng cụ thiết bị nào đó. Ngoài ra, nguyên tắc là tư tưởng chủ đạo và định hướng cơ bản được thể hiện xuyên suốt toàn bộ hoặc một giai đoạn nhất định đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải tuân theo. Theo Điều 105 BLDS năm 2015 xác định như sau: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lí, vat là bộ phận của thế giới vật chất có thể đáp ứng được một nhu cầu nào đó (vật chất) của con người. Tuy nhiên, không phải bất cứ bộ phận nào của thế giới vật chất đều được coi là vật. Vì vậy, có những bộ phận của thế giới vật chất ở dạng này thì được coi là vật nhưng ở dạng khác lai không được coi là vật. Ngoài yếu tố đáp ứng được nhu cầu của con người, vật với tư cách là tài sản phải nằm trong sự chiếm hữu của con người, có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của các giao dịch dân sự.
Ở Việt Nam, tải sản của vợ chồng theo chế độ tai sản luật định bao gồm tài sản chung và tài sản riêng. Trong đó, tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tai sản chung được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật HN&GD năm 2014; tài sản ma vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chong, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Ngược lại, tài sản riêng của vợ chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ chồng theo quy định Luật HN&GĐ; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ chồng.
Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật HN&GD năm 2014. Thuật ngữ “chế độ” được sử dụng ở những nghĩa và ngữ cảnh khác nhau. Theo nghĩa tiếng Pháp và tiếng Latinh thì chế độ có nghĩa là: Chế độ nhà nước, tông thé các phương tiện, biện pháp, phương pháp, phương thức thực hiện quyền lực; (ii) Trật tự đời sống được quy định rất chặt chẽ (trật tự lao động, nghỉ ngơi ăn uống, chữa bénh.); (iii) Hệ thống các quy tắc bắt buộc, các đòi hỏi, các quy phạm, các nguyên tắc được quy định đối với một loại hoạt động nào đó (ví dụ: sử dụng đất, săn ban, câu cá.
Theo Từ dién tiếng Việt khái niệm “chế độ” là chỉnh thé chính trị, kinh tế, văn hoá hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định. Tính đa nghĩa của khái niệm “chê độ” chứng minh vê tính liên ngành cua nó, khái niệm nay được sử dụng trong những lĩnh vực khoa học khác nhau. Ở mức độ lớn nhất, phạm trù này được sử dụng trong các nghiên cứu pháp luật, bởi vì, nó cho phép làm sáng tỏ một cách sâu sắc và đầy đủ nhất thực trạng pháp luật (chất lượng, các thuộc tính, các đặc điểm) của xã hội Việt Nam hiện nay, tính chất của những thay đổi đang diễn ra trong xã hội chúng ta. Nói chung, chế độ pháp luật trong ngữ cảnh đang được xem xét có thể được coi là một hệ thống các phương tiện nào đó mà với sự trợ giúp của chúng các chủ thé của chính sách pháp luật sử dụng dé xác lập trật tự này hay trật tự khác trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong tô chức các mối liên hệ xã hội, để đạt được các mục tiêu nào đó và bằng cách đó giải quyết được những vấn đề chính trị - pháp lý nhất định.
Trước hết, hệ thống đó bao gồm các phương tiện sơ dang - những sự cho phép, các điều cam, các nghĩa vụ, cũng như các phương tiện tổng hợp, tức là các phương pháp điều chỉnh pháp luật - phương pháp mệnh lệnh, quy định, khuyến khích, khuyến nghị. Từ các khái niệm trên có thé hiểu chế độ là hệ thống các quy định pháp luật cần được tuân thủ trong một quan hệ xã hội nhất định nhằm đạt được mục đích nhất định. Chế độ là một khái niệm rất rộng và được hiểu theo nhiều nghĩa tương ứng với từng lĩnh vực khác nhau. Như vậy, chế độ tài sản giữa vợ chồng 1a tập hợp các quy tắc được xây dựng dé điều chỉnh quan hệ tài sản phat sinh giữa vợ chồng, bao gồm các van đề xác lập quan hệ tài san, sự phân định tai sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ tai sản chung và riêng trong thời ky hôn nhân, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng liên quan đến khối tài sản này và việc phân chia tài sản như thế nào khi chấm dứt quan hệ tài sản giữa họ.
Trên thực tế cũng có định nghĩa răng chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về (sở hữu) tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định [28, tr. 10 Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quan hệ sở hữu tài sản của vợ chồng, bao gồm căn cứ, nguồn gốc xác lập tài san chung, tài sản riêng của vợ chồng, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với các loại tài sản đó và nguyên tắc phân chia tài sản của vợ chồng. Các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng không chỉ là căn cứ pháp lý để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản của mình mà còn là cơ sở để giải quyết các tranh chấp về tài sản phát sinh giữa vợ với chồng, giữa vợ chồng với người thứ ba. Nói đến chế độ tài sản vợ chồng là nói đến vấn đề sở hữu đối với tài sản của vợ và chồng, và chỉ tồn tại trong thời kì hôn nhân (từ khi kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt).
Khái niệm này theo Nguyễn Mạnh Bách “Chế độ hôn sản gom một số các nguyên tắc quy định quyên hạn của hai vợ chong trên các tài sản chung, sự đóng góp tién bạc của hai vợ chong trong thời gian hôn nhân, các quyên lợi của người thứ ba giao dịch với họ và những quyên lợi của mỗi người vợ chong khi hôn thú cham dứt” [31, tr. Chế độ tài sản của vợ chồng có ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của cá nhân vợ chồng cũng như các thành viên trong gia đình và quyên, lợi ích của những người có liên quan. Theo lý thuyết phân loại thì chế độ tài sản của vợ chồng bao gom chế độ tài san dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng (chế độ tài sản ước định hay còn gọi là chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận) và chế độ tài sản của vợ chồng theo các căn cứ quy định của pháp luật (chế độ tài sản pháp định hay còn gọi là chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định). Nguyên tắc của pháp luật là những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo cơ bản đối với xây dựng pháp luật, nội dung, hình thức các quy định pháp luật, thực hiện, áp dụng pháp luật, dịch vụ pháp luật.
Nguyên tắc pháp luật là cơ sở của mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân, cơ sở xây dựng văn hóa pháp luật [28, tr. Các nguyên tắc pháp luật thường được ghi nhận như kim chỉ nam điều chỉnh việc xây dựng và thực hiện pháp luật của một quốc gia. Trong 11 lĩnh vực luật HN&GD, quan hệ tài sản giữa vợ và chồng cũng chịu sự chi phối của các nguyên tắc của chế độ tài sản của vợ chồng. Như vậy, có thé hiểu nguyên tắc của chế độ tài sản của vợ chồng là nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng: các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng.
Nội dung của các nguyên tắc cơ bản này thể hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng chế độ tài sản của vợ chồng trong hôn nhân, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên gia đình. Đặc điểm nguyên tắc của chế độ tài sản của vợ chong Thứ nhất, nguyên tắc của chế độ tài sản của vợ chồng là nền tảng pháp lý áp dụng chung cho mọi quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Theo đó, trong trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc áp dụng chế độ tài sản theo luật định buộc phải tuân thủ các nguyên tắc của chế độ tài sản của vợ chong. Mặt khác, nếu vợ chồng lựa chọn chế độ tải sản theo thỏa thuận thì cũng phải tuân thủ các nguyên tắc của chế độ tài sản của vợ chồng trong việc xây dựng chế độ tài sản theo thỏa thuận.