Chương 1. Ly luận pháp luật về chia tai sản chung của vợ chồng trong thời kỹ hôn nhân. Chương 2: Pháp luật vẻ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỹ "hôn nhân ỡ Việt Nam hiện nay Chương 3: Thực tiễn áp dung chia tai sin chung của vợ chẳng trong thời kỷ hôn nhân tại thanh phó Hà Nội và một số kiến nghị CHUONG1 LY LUẬN PHAP LUAT VE CHIA TÀI SAN CHUNG CUA VO CHONG TRONG THỜI KỲ HON NHÂN 1. Một số khái niệm cơ ban 1.
Khái niệm tài sin Tài sản la vấn để trung têm, cốt lối của mỗi quan hệ 2 hội nói chung va quan hệ pháp luật nói riêng. Khái niệm về tai sản cho đến hiện nay van chỉ mang tính chất liệt kê, khái quát chưa mang tinh tổng hợp. Theo từ điển tiếng. Việt thì “Tài sản " là: Chia cải vật chất cing dé sẵn xuất hoặc tiêu dũng.
Tuy nhiên, khác với quan niệm trong đời thường, quan niệm trong pháp lý vẻ tài sản lại có chút khác biết. V'ê mat pháp ly, việc nhân thức đúng vẻ tai sản va phân. loại tài sin có vai trò quan trọng trong việc hình thảnh các quy định pháp luật và giãi quyết các tranh chấp pháp lý. Dưới thời Pháp thuộc, các quy định vẻ tai sản trong ba Bộ dân luật của Viet Nam déu mô phöng lại các quan niệm vẻ tai sản như trong BLDS Pháp.
Bộ DLGYNK 1883,Bô DLBK 1931 và Bồ DLTE 1936 déu thừa nhận tai sin chia thành hai loại: Bat động sin và động sản. loại có một quy chế pháp lý khác nhau. Tiếp đó các bộ luật cũng liệt kê các loại tải sản vào hai nhóm (la bat đông sin theo tính chất, theo mục đích và theo quyển sử đụng - Biéu 450, 152, 45 DLBK và Điêu 461, 42, 44 DLTK, là đông, sản theo tính chất và do pháp luật quy định - Điều 454 B6 DLBK, Điển 165, 469 DLTK), B Dân luật Sai Gòn năm 1972 cũng lầy nguyên mẫu các tiêu chỉ phân loại bắt động sản và đồng sin của BLDS Pháp BLDS năm 1995 của Nhà nước ta trước đây quy định: “Tài sản bao gồm vật có thục, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyên tài sản”. vẻ tai sản của BLDS năm 1995 nhìn chung đã có tiến bộ so với luật trước đó, đáp ứng được phân nao những đôi hi cia thực tiến Tuy nhiên, khi zã hội phát triển, nhiều yêu cầu mới đặt ra, đời hdi phải có những sửa đổi, bé sung phù hợp Điều 163 BLDS năm 2005 quy định lại vẻ tải sẵn như sau: “Ta sin bao gém vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Như vậy, BLDS năm 2005 đã bé cụm từ "C6 rhựe “ trong quy định vé vật trong BLDS năm 1995. “Vat được hiểu theo ngiữa rồng hơn, không chỉ là những vật có thực mà cã những vật được hình thành trong tương lai (nhà sẽ zây, hoa mu sẽ thu hoạch.) cũng có thé la đổi tương của giao dich dân sw. Quy định nay đã phù hợp hơn với đời sống thực té va trong các giao dich dân sự trong cơ chế kinh tế thị trường ở nước ta thời điểm bay giờ, cum tử “gidy tờ frị giá được bằng tiền" cũng được. đổi thành “giật fờ có giá”.
Tuy nhiên, cing giống như BLDS năm 1995, BLDS. năm 2005 cũng mới chỉ liệt kê ra được các loại tải sản mà chưa có khải niềm. vẻ tài sẵn. én quy định tại pháp luật hiện hành Ja BLDS năm 2015 thi tài sản đã có định nghĩa chính thức, quy định tại Điều 105 như sau: "Tài sđn là vat, n giấp tờ có giá và quyên tài sản “.
Như vậy, thay vì đưa ra phương thức liệt kế như quy định tại BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 đã đưa ra định nghĩa khi thay từ “bao gồm ” bằng từ “7à”. Tuy nhiên, quy định nảy vẫn chỉ được xây dựng theo hưởng liệt kê ma chưa đưa ra được nôi dung khái quát ban chất của tải sẵn là g. Về cơ bản, một đối tượng trong thé giới khách quan được coi la tải sản khi nó nằm trong sự kiểm soát, chỉ phối, nắm giữ được của con người. Nói cách Khác, tải sản có một số đặc điểm như: (i) thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định, đi) đáp ứng một lợi ích nhất định của con người (oi ich vat chất hoặc lợi ich tính than), (ii) mang tính giá ti (giá trị và giá tri sử dụng).
theo quy định của BLDS năm 2015 được thể hiện đưới bổn dang cu thé, đó la: vật, tiễn, giây từ có giá, quyên tải sản. Khái niệm chế độ tài sin của vợ chẳng. Hôn nhân, hiểu theo một cách chung nhất thi có thé được xác đính là sự sắp đất của một zã hội dé điều chỉnh mỗi quan hệ sinh lý giữa đán ông va phụ nữ. Nhờ đó xã hội sắp đặt và cho phép ho sống chung và sinh con đề cái với nhau, quy đính quyển lợi và ngiĩa vụ của ho.
Hôn nhân là sự kết hop của các cá nhân vẻ mất tinh cảm, xã hôi, hoặc tôn giáo một cách hop pháp. có thể la kết quả của tinh yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ ban trong gia inh ở hầu hết các xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dầu sự chính thức bắt đâu của hôn nhân.
Vé mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn với cơ quan Nhà nước có thẩm quyển. Hôn nhân lả quan hệ giữa vợ vả chồng. sau khí kết hon? Sau khi kết hôn, vợ chẳng cũng nhau tao dựng va phát triển vào khối tài sản chung nhằm xây dung một gia đình hạnh phúc, bén vững tạo nén tang cho sự Gn định va phát triển của xã hội. Trong quá trình chung sống, ngoài đời sống, tình cảm thi dé gia đính tôn tại vả phát triển cũng can phãi có yêu td vật chất lả tải sản để bão dim những nhu cầu thiết yêu, nhu céu về vật chất va tính thân.
của gia đính trong việc chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo. duc con cái, các nghĩa vụ, trách nhiệm khác với người thân của hai bên trong gia định. Có thé nói, sau khi kết hôn, tài sin chung của vơ chồng được hình thành, các lợi ích và các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt khối tai sẵn này, cũng được hình thành. Trong thời kỳ hôn nhân, tắt cả tai sin của vo, chẳng dù 1ã tai sin riêng cũa mỗi bén hay trong khỏi tai sin chung thi déu được khai thác, sử dụng triết dé, tu tiên tối đa cho việc duy tn va phát triển hanh phúc gia đính.
Song song với đó la việc vợ, chẳng có thể thực hiện các giao dich với người thứ ba liên quan đến tai sn của vợ chồng. Theo đó, để phat triển được khối tải sản của vợ chẳng thì vợ chồng côn thực hiện các giao dich liên quan đến người thứba. Việc này được thể hiên rổ nhất trong việc tham gia hoạt động kinh doanh. thương mại của vợ chẳng.
Vi vậy, để bảo dam quyền lợi chính đáng của người thứ ba khi tham gia giao dịch thi Khi thực hiện ký kết hợp đồng các giao dich này, người thứ ba có quyền được biết nguồn gốc tai sẵn trong hop đồng ký kết được thực hiền từ đầu, nó nằm trong khôi tải sin chung hay tải sin riêng của vợ, chẳng Nhận thức được tầm quan trọng của chế độtai sẵn của vợ chẳng như. vây, trong hệ thống pháp luật HN&GĐ, ch độ tai sản của vợ chẳng luôn được quan tâm xây dựng là một trong những chế định cơ bản, quan trong nhất, nhằm: @ bảo dim quyển va nghĩa vu của vo, chẳng vé tai sản, (ii) bao đảm lợi ích của bên thứ ba tham gia giao dịch liên quan đến tải sản của vơ chẳng, (ii) là cơ sử pháp lý để cơ quan nha nước có thẩm quyển giải quyết các tranh chấp về tải sin giữa vợ chẳng với nhau vả với bên thứ ba. Hin 1 Đu 3 Luật HNGGD năm 2014 10 Chế độ tai sản của vợ chẳng được nha lãm luật dự liệu đưa trên tính chất, mục đích của quan hệ hôn nhân được ác lập, thể hiện một yêu tổ khách quan ‘ma không phụ thuộc vào các điểu kiện kinh té - 28 hội, phong tục, tập quan, truyền thống văn hóa để đến nay được quy định trong pháp luật vẻ chế độ tai sản của vợ chẳng, Trong pháp luật của Nha nước ta, cho dén thời điểm hiện tại vẫn chưa có một khái niệm vé chế độ tai sin của vơ chẳng được quy định trong một văn bản cụ thể của cơ quan Nhả nước có thẩm quyền nhưng có thể nhìn. một cách tổng quát quy định này dua trên nghiên cứu của các luật gia, các nha nghiên cửu pháp luật.
Tại Giáo trình Luật HN&Đ, tập 2, Khoa Luật Đại học Cẩn Thơ thi: “Chỗ độ tài sản vợ chông là tổng hop các quy phạm pháp luật điều chinh quan Tô tải sẵn cũa vo ching. bao gầm các guy định về căn cử xác lập tài sản, quyền và ngiữa vụ của vợ chồng đối với tài sản chưng. tài sản riêng; nguyễn tắc phân chia tài sản giữa vo và chẳng, Tài sản được phân loại gém: tài sản chang và tài sẵn riêng. Với quan lộ tài sẵn clumg.
vo chỗng cùng tham gia vào việc tao lập, qn tri và phát triển khối tài sản mà họ có quyễn sở hit chung. Trong kit người trong việc xác lập vài ‘Theo tác gi Nguyễn Văn Cừ “Chế độ tài sân của vợ chồng là tổng hop các quy phạm pháp iuật điều chỉnh về tài sản của vợ chẳng, bao gồm các quy dinh về căn cứ xác lập tài sản, quyền và ngiữa vụ của vợ chông đỗi với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sẵn giữa vo và chẳng “.* Tại hai định nghĩa nêu trên đã déu chỉ ra được nôi dung cơ bản về chế đô tai sản của vơ chồng Tuy nhiên, đời sống vợ chồng là một quan hệ xã hội mở nên pháp luật không thể điều chỉnh hoàn toàn hết được. Hon nữa, pháp luật ở mỗi quốc gia déu có quy định về chế độ tai sin của vợ chủng, tuy nhiên đều có sự khác nhau. Củng với đó, ngay trong một quốc gia, theo từng giai đoạn, thoi kỷ khác nhau, chế đô tai sin của vo chồng được pháp luật quy định cũng có thé Ja khác nhau (Pháp, Việt Nam, .