Chương 1 CO SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHIA TÀI SAN CHUNG cUA VO CHONG KHI LÝ HON 11. Một số khái niệm. LLL Khái niệm y hon Quan điểm của học thuyết Mác - Lênin vẻ ly hôn cho rằng: Ly hôn la một mat của quan hệ hôn nhân, là mặt trái, mặt bất bình thường nhưng là mặt không thé thiêu của quan hé hồn nhân, khi hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, mục đích hôn nhân không còn đạt được, tinh cảm yêu thương gắn bó giữa vợ chẳng đã thực sự tan vỡ. Trong trưởng hợp đó, ly hôn là một việc làm cần thiết cho cả vo chẳng và cho xã hội vi nó giải phóng cho tat cả các cấp vợ chẳng, các con cũng như các thành viên khác trung gia đính thoát khỏi zùng đột mâu thuấn, bé tắc trong cuộc sing.
Các Mác đã chi rõ Ly liên chỉ là việc xác nhận một sự kiên, rằng đô là cuộc hin nhiên đi chết, sự tôn tại của nỏ chỉ là bề ngoài và giả đối. không phải sự tì tiện của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiên của mỗi cá nhân; mà chỉ bản chất của sự kiện mới quy ảnh được rằng cuộc hôn nhân này là đã chết hay chưa chất. Boi vì, việc xác đình sự kiên chết của quan hệ hôn nhân ia tig thuộc vào thực chất của vẫn đề cae kiông phải vào ý chi của các bên lữm quan. Nhà lập pháp chỉ có thé xác đinh những điễu kiện trong đồ hôn nhân được pháp tan vỡ, nghĩa là về tục chất, hôn nhân tee nô đã bt phá vỡ việc Téa án cho pháp hả b6 hôn nhân chẳng qua chỉ là việc ght biên bản công nhãn sự tan rã bên trong của nó mà thôi, Theo quan điểm nay, hệ thống pháp luật vé hôn nhân và gia đính của Nước ta từ năm 1945 đến nay quy định van dé ly hôn với quan điểm vừa tôn.
trong, bao về quyên tự do ly hôn chính đáng của vợ chẳng, vừa quy định giải (Che Mác ~Eh Angghen, Toàntip, Tip1,Ha Nội, 1978, 76. 110-121 quyết li hôn có tinh, có lí. Khi Toa án giải quyết ly hôn và hậu quả pháp lý. của ly hôn phải bảo dim các nguyên tắc chung.
bão vé quyển va lợi ích hợp pháp của vợ chẳng, trong đỏ quan tâm chính đảng đến quyển vả lợi ich hop pháp của người vơ và các con chưa thành nién; đủ đã ly hôn thì vơ chồng với từ cách là cha me vẫn có moi quyển vả nghĩa vụ đối với các con; khi ly hôn, néu một bên vơ, chẳng có khó khăn túng thiêu mà có lý do chính đáng thi có quyển yêu cẩu người chẳng, vơ bên kia phải thực hiền nghĩa vụ cấp dưỡng. Ly hôn là một hiện tượng 28 hội được điều chỉnh bằng pháp luật của nhà nước. Nhiễu quốc gia trên thể giới, do khác nhau vẻ thể chế chính trị, phong tuc, tập quán, văn hóa, sw phát triển của các điều kiên vẻ kinh tế - xã hội ma van để ly hồn được quy định trong hé thông pháp luật của mỗi quốc gia là khác nhau. Một số nước câm ly hôn nhưng da số pháp luật nhiều nước công nhận quyển tự do ly hôn của vợ chẳng.
Đồi với những nước câm ly hôn, hầu hết do sw tác đồng của tôn giáo, theo đó, hôn nhân được zác lập và được đuy tri mang tính chất "vĩnh cửu", không thé chia cất. Trải ngược với các. nước có quy định cắm ly hôn, các nước có quan điểm tự do ly hôn cho rằng hôn nhân không thể được duy tri, một khí vợ, chẳng hoặc cả hai không còn. muốn chung sống với nhau.
người phai có quyền tự do châm đứt quan hệ hôn nhân, cũng như đã có quyên tự do ác lập quan hệ đó. Trong 24 hội có giai cấp thì pháp luật bao giờ cũng bao vệ quyển lợi của giai cấp thông trị Mỗi xã hội, mỗi giai cấp đều có quan điểm riêng về HN&GD. Quan điểm về HN&GĐ của giai cấp thông trị được thể hiện rõ nhất thông qua sự điều chỉnh bằng hé thống pháp luật. Hôn nhân dưới thời phong kiến thường dựa trên cơ sở cưỡng ép "cha mẹ đặt đâu con ngồi Ady".
Pháp luật của Nha nước phong kiến thừa nhận quan hệ bắt bình đẳng giữa nam va nữ, giữa vợ và chồng, bảo vệ quyển gia trưởng trong nam, khinh nif, coi người din ông là trụ cột, coi ré quyền lơi của người phụ nữ và con cái. Luất 10 pháp phong kiến quy định ly hôn như một đặc quyéncia người din ông Pháp luật của Nhà nước từ sin lại coi hôn nhân như la một hợp đồng dân sự do hai ‘bén đương sự thöa thuên. Sự thỏa thuận đó được xác lập giữa nam và nữ, dit muốn hay không cũng không thể thoát khdi những rang buộc về kinh tế và địa vi giai cấp. Ngiấa vụ của vo chẳng cũng giống như nghĩa vụ của chủ thé của hai bên chủ thể của hợp đẳng.
Việc chim diit hôn nhân cũng giống như việc hủy hop đồng khi một bên đương sư vi pham hợp đồng, nghĩa lá một bên vợ hay chồng phải có lỗi. Chính vì coi hôn nhân như một hợp đồng nên giai cấp tư sản quy đính việc chấm dứt quan hệ hôn nhân dựa trên cơ sở lỗi cia các bên Như vậy trong 24 hội có giai cấp, pháp luật về HN&GĐ thường không bảo vé quyên lợi của người phụ nữ và trễ em. Nếu có quy định trong pháp luật cho họ một ít quyền đi chăng nữa thi trên thực tế quyển lợi đó không có điển kiên thực hiện. Pháp luật trong xế hội có giai cấp không quy định những biện pháp hạn chế ly hôn mà chủ yêu chi xem xét ly hôn dưa trên yêu tổ lỗi, không có hỏa gii, do vậy đã để lai rt nhiều hậu quả pháp lý sau ly hôn đó là quyển và lợi ích của các thành viên trong gia đình không được bão đảm V.ILénin đã từng khẳng định rằng nếu không đòi quyển hoan toản tự do ly hôn cho phụ nữ và nếu thiểu quyển tự do ấy là một sự ức hiếp lớn đối với phụ nữ.
Sinh: thời, Chủ tịch Hỗ Chí Minh cũng đã từng nói: "Nếu không giải phóng pin nit lầu › dung chủ nghĩa xã hội chỉ một nữa'2. Khi xem sét việc bao vệ quyền của phụ nữ khi ly hôn thì không thé tách rời việc nghiên cứu về quyền va bảo vệ quyền con người của phụ nữ Ly hôn có mất tích cực đó là sự giải phóng cho cả hai vợ chẳng khi họ không còn tỉnh yêu với nhau, cuộc hôn nhân của họ đã chất, tao cơ hội để cả 2 bén vợ, chẳng tim kiểm hạnh phúc mới. Ngoải a, con dim bão sự bên vững trong các mỗi quan hệ gia đính. Lê Nin cho rằng, thực ra tư do ly hôn tuyết đối không có nghĩa là lảm “tan rắ" những mốt liên.
hệ gia đình mã ngược lai, nó cũng cô những mỗi liên hệ đỏ trên những cơ si “ad Chí Mah toàn tập 18 Ngh Chính vi Quấc gi, HA Nội (1969), 498 ul dân chủ, những cơ sở duy nhất có thé có và vững chắc trong một x4 hội van minh, Tuy nhiên, bên cạnh mất tích cực đó, 1y hôn cũng có mất hạn chế đó là sử tan vỡ hạnh phúc, gia đình ly tan, vợ chồng va con cái chia lia. Việc bổ mẹ ly hôn gây ảnh hưởng rat lớn đến sự phát triển tâm sinh lý của tré, nhất là trẻ vi thành niên. Theo thông kê của Bô Công an, giai đoạn 2018 - 2020, cả nước đã ghi nhân gần 11.000 vu người chưa thành nién vi phạm pháp luật, với gin 16.600 đối tượng có liên quan. Trong đó, nữ giới chiếm 5%, nam giới chiếm.
dén 95%, Riêng năm 2020 đã xay ra gần 4.500 đối tượng” Nguyên nhân chính cho việc tôi phạm vi thành niên ngày cảng gia tăng la do tố mẹ ly hôn, những đứa trẻ thiếu sự quan tâm, chăm sóc, quản lý của gia đính. Việc tội pham tré hóa ngày cảng phổ biển hơn va manh đông, gây bat ôn. rat lớn đến gia dinh và sã hội là một héi chuông báo đông trong sã hội hiện. Có thể thay rằng, không có một xã hội nào phát triển khi mà gia đính nao cũng ly hôn ‘Theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, ly hôn.
được hiểu la: “chẩm dit quan hệ vợ chông do Tòa án nhân dan công nhận. hoặc quyết dinh theo yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vo chông"^. Theo đó, ly hôn được hiểu đơn giần là việc chấm đút quan hệ vo chồng có nghĩa là giữa hai bến vợ chồng không còn tổn tai quan hệ hôn nhân, khi đó pháp luật sé giải quyết các quyền va nghĩa vu của hai bên một cách théa đáng, dam bão quyên lợi hợp pháp cho các bên. 'Vẻ mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoàng, trong mồi quan hệ vợ chẳng.
Còn xét vẻ mặt pháp ly thi ly hôn là một sự kiên. pháp lý lam chấm dút các nghĩa vu, quyền giữa vo va chồng trên cơ sở yêu cfu của vo chẳng và được Tòa án công nhân. Trên quan điểm tự do hôn nhân, ‘bao gồm tự do kết hôn va tư do ly hôn, pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khí họ không yêu nhau thì cũng không bắt buộc vơ chồng phải chung "pe bec Gin dap pap gar dư tpn vara i 46782/ “"Nedizn nithoc 2003), Viện nhờn cou ho học pup ý Bộ Teplup, Nội, 460. sống với nhau khi tỉnh yêu giữa ho không củn nữa.
Việc ly hôn nhằm giải phóng cho vợ, chẳng khỏi những mâu thuẫn sâu sắc ma họ không thể giải quyết được. Trong trường hợp nảy, ly hôn là một việc cẩn thiết cho cả vợ chẳng va cho ã hội; vi nó giải phóng cho tắt cả moi người, cho vợ chồng, các. con cũng như những thành viên trong gia đính thoát khôi sung đột, mâu th 'tể tắc trong cuộc sống chung. Trong khoa học pháp lý nói chung vả khoa học Luật HN&GD nói riêng, việc đưa khải niêm đây đủ vé ly hôn có y ngiĩa quan trọng phản ảnh.
quan điểm chung nhất của Nhà nước ta vé ly hén, tao cơ sở lý luận cho việc xác định ban chất pháp lý của ly hôn, xác định nội dung, phạm vi điều chỉnh. của các quan hệ pháp luật hôn nhân va gia đình vé ly hôn va các vẫn dé phát sinh khác. Khoân 8 Điều 8 Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 quy định: "Zy hôn là chắm diet quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhân hoặc quyét định theo yêu câu của vợ hoặc của chéng hoặc ca hat vợ chéng”.