Chương 1. Khái quát chung về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con trong pháp luật Việt Nam và Lào Chương 2.Pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con trong mối liên hệ với pháp luật CHDCND Lào 5 Chương 3.Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con. Một số khuyến nghị hoàn thiện pháp luật của Việt Nam và Lào 6 CHUONG 1. KHAI QUAT CHUNG VE QUYEN VA NGHIA VU CUA CHA ME VA CON TRONG PHAP LUAT VIET NAM VA LAO 1.
Khái niệm chung về quyên và nghĩa vu của cha me và con Quyên và nghĩa vụ của cha me và con là một phạm trù khoa học pháp ly và đê hiêu được bản chât của nó trước tiên ta phải xác định rõ một người thê nào được gọi là cha, là mẹ, là con của nhau. Khái niệm cha, mẹ và con 1. Khái niệm cha, mẹ Xưng vị “cha” trong ngôn ngữ tiếng Việt bắt nguồn từ biến âm của tiếng Trung Quốc “#®” (với phiên âm là “Diẽ”). Trong tiếng Việt, từ “cha” còn gần nghĩa với từ bố - bắt nguồn từ “bô” (có nguồn gốc từ từ “4*” với phiên âm địa phương là “pẽ”, phiên âm chính thống là “Fù” — tương ứng với Phụ ) là một trong những từ đầu tiên người Việt Nam dùng dé gọi người đàn ông có công sinh thành ra mình, và có một biến âm là “bố”.
Tuy theo từng vung địa lý mà từ “cha” được gọi khác nhau, thí dụ như: ba, tia (người miền Nam), Bọ (người Quảng Bình, Thầy (cách gọi của người Thái Bình). Còn ở Lào, “cha” được gọi là “ tử ° (phiên âm: Bo) trong hệ ngôn ngữ Lao - Tai’ - cách gọi này phổ biến trên toàn lãnh thô Lào và không có sự khác nhau theo từng vùng địa lý như ở Việt Nam. Theo từ điển tiếng Việt, cha được định nghĩa là “người đàn ông có con, trong quan hệ với con (có thé dùng dé xưng gọi)”. Từ điển oxford dictionaries cũng định nghĩa “father:A man in relation to his child or children” (tạm dich: cha là một người đàn ông có liên quan đến con mình hoặc là đứa trẻ)”.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, pháp luật Dân sự nói chung và pháp luật Hôn nhân và Gia đình nói riêng của Việt Nam và Lào không có văn bản nào quy định về khái niệm “cha”. Trong pháp luật dân sự các nước trên thê giới, khái niệm “cha” lân đâu tiên được 'Uy ban dân tộc Lào (2015), Ethnic of Lao, NXB. Chính trị quốc gia Lào, trang 13. ? Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điên tiêng Việt, Nxb.
Da Năng, tr. I30 * Xem thêm tai địa chỉ: https://en.com/definition/father, ngày truy cập 10 tháng 05 năm 2018. 7 ghi nhận trong một văn bản luật - Bộ luật Dân sự Đức được ban hành năm 2002, được sửa đổi năm 2009 định nghĩa cha là “The father of a child is the man 1. Who is married to the mother of the child at the date of the birth, 2.
Who has acknowledged paternity or 3. Whose paternity has been judicially established under section 1600d or section 182(1) of the Act on the Procedure in Family Matters and in Matters of noncontentious Jurisdiction” (Section 1592)’. Tam dich sang tiéng Việt như sau: “Cha của một đứa trẻ là một người: 1. Người kết hôn với mẹ của đứa trẻ vào ngày sinh, 2.
Người đã công nhận quan hệ cha-con hoặc 3. Quan hệ cha-con của người mà đã được thiết lập một cách hợp pháp theo Mục 1600d hoặc Mục 182(1) của Đạo luật về thủ tục những van dé gia dinh va van đề của thâm quyền không tranh cãi” (Mục 1592). Theo đó, Pháp luật Dân sự Đức sử dụng nguyên tắc suy đoán pháp lí rằng: người đàn ông có quan hệ hôn nhân với mẹ của đứa trẻ tại thời điểm mà nó được sinh ra là cha của đứa trẻ, thậm chí, nêu người me của đứa trẻ có thai với một người đàn ông khác trước khi kết hôn với người đàn ông này nhưng chỉ cần tại thời điểm đứa trẻ được sinh ra, ông ay là chồng của mẹ đứa trẻ. Tức là, vào ngày đứa trẻ được sinh ra, người đàn ông làm chồng của mẹ đứa trẻ chính là cha của đứa trẻ.
Như vậy, các khái niệm trên đều đưa ra định nghĩa “cha” tương đối rộng nhưng chưa chỉ rõ mặt xã hội học của khái niệm này, một người được gọi là cha của một đứa trẻ khi đứa trẻ đó do vợ của ông ta sinh ra hoặc được nhận nuôi theo quy định của pháp luật. Người cha có bổn phận bảo vệ và chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục,. con mình theo các quy định pháp luật cũng như bản năng làm cha. Mặt khác, các khái niệm trên còn hạn chế ở chỗ không quy định cụ thé về “cha đẻ”, “cha không chính thức” và “cha chính thức”.
Vi theo quy định của pháp luật thì có những người cha được pháp luật công nhận là cha chính thức của một đứa trẻ nhưng không có quan hệ huyết thống với đứa trẻ do người đó có quan hệ hôn nhân hợp pháp với mẹ của đứa trẻ và công nhận đứa trẻ là con của họ. * Xem thêm Bộ luật dân sự Đức (German Civil Code), tr.430 tai dia chỉ: http://www.ore/dyn/natlex/docs/EL ECTRONIC/61 880/99080/F 1903938413/D EU61880%20English.pdf, ngày truy cập 15 thang 05 năm 2018. 8 Như vậy, người cha đẻ có thé là người cha chính thức hoặc không chính thức và ngược lại. Ở Lào, khái niệm “cha” chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và lần đầu tiên được đề cập đến trong công trình “Tiếp cận văn hóa dân tộc Lào qua nghiên cứu truyền thống và phong tục gia đình của người Lào” của tác giả Vilaychan Thao: “cha là người sinh ra những đứa trẻ và là người đứng đầu gia đình”.
Tác giả cho rằng quan điểm trên chưa chính xác, bởi theo cách tiếp cận dưới quan điểm của y học, cha là con người trực tiếp cung cấp tinh trùng trong quá trình thụ tinh nhằm tạo ra một cơ thé mới qua quá trình mang thai và sanh nở của người mẹ. Còn quan điểm “cha là người đứng đầu gia đình” không đúng đối với trường hợp gia đình theo chế độ mẫu hệ - đây là hình thái tổ chức xã hội mà phụ nữ giữ vai trò lãnh đạo, con cái mang tên thị tộc mẹ, quyền lực và tài sản được truyền từ mẹ cho con gái. Bên nhà gái làm lễ cưới chồng cho con và con sinh ra mang họ mẹ. Người phụ nữ có địa vị cao hơn đàn ông, được tôn kính trong gia đình và ngoài xã hội”.
Vậy, theo quan điểm của tác giả, cha của một đứa trẻ là “người có quan hệ huyết thống với đứa trẻ đó hoặc được pháp luật công nhận”. Cũng như khái niệm cha, khái niệm mẹ chưa được hệ thống pháp luật Việt Nam đưa ra định nghĩa và chỉ có trong các từ điển Tiếng Việt. Theo đó, mẹ là “người đàn bà có con, trong quan hệ với con”, Đây là một khái niệm rộng, nếu chỉ đưa ra khái niệm như vậy thì “mẹ ” sẽ bao gồm cả mẹ đẻ và mẹ nuôi”. Trong cuốn Từ điển tiếng Việt của Hoàng Yến — Thanh Long, mẹ là “người đàn bà sinh ra mình”Š.
Khái niệm này cũng giống với khái niệm mẹ được quy định trong Bộ luật Dân sự Đức năm 2002 sửa đổi và bổ sung năm 2009: “The mother of a child is the woman who gave birth to it” (Section 1591)”, tam dich là: “Mẹ cua một đứa trẻ là người sinh ra nó” (Mục 1591). Cả hai khái niệm này đều tiếp cận dưới góc độ sinh học pháp lý, > Xem thêm: “Chế độ mẫu hệ ở một số dân tộc đương dai” tại dia chỉ: https://baomoi.com/che-do-mau-he-o-mot-so- dan-toc-duong-dai/c/5826708.epi, ngày truy cập 15 thang 05 năm 2018. “Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Da Nẵng, tr.
a Nguyễn Thi Lan (2008), Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam, luận án tiễn sĩ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr. Š Hoàng Yến, Thanh Long (2008),Từ điền tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, tr. ? Xem thêm Bộ luật dân sự Đức (German Civil Code), tr.430 tại địa chỉ: http://www.org/dyn/natlex/docs/EL ECTRONI C/6 1 880/99080/F 1903938413/D EU61880%20English.pdf, ngày truy cập 15 tháng 05 năm 2018. 9 khái niệm mẹ, con luôn gắn liền với những sự kiện pháp lý nhất định.
Quan hệ giữa mẹ và con về mặt pháp lý chỉ được phát sinh khi được sự chứng nhận của cơ quan nhà nước có thâm quyền. Xét về nguyên tắc, người mẹ, người con về mặt sinh học sẽ đương nhiên trùng với người mẹ về mặt pháp lý vì mối quan hệ này có xuất phát điểm là sự kiện sinh đẻ để nhằm đảm bảo tính huyết hệ tự nhiên giữa hai thế hệ sinh ra kế tiếp nhau. Tuy nhiên với trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người mẹ, người con về mặt sinh học có thé không trùng với người mẹ, người con về mặt pháp lý.Một van đề đặt ra là hệ thống pháp luật cần thiết phải có cơ chế điều chỉnh phù hợp để người mẹ, người con về mặt pháp lý gần nhất với người mẹ, người con về mặt sinh học. Do đó, một câu hỏi được đặt ra là: “Có phải tất cả những người phụ nữ sinh ra mình đều có thể được gọi là mẹ không?”.
Có nhiều khả năng xảy ra như: Pháp luật một số nước cho phép mang thai hộ nên người mang thai và sinh ra đứa trẻ lại không phải là mẹ của đứa trẻ mà thực chất là người phụ nữ khác. Có những trường hợp người mẹ sinh ra đứa trẻ nhưng xét nghiệm ADN cho thấy đứa trẻ có nhóm máu không phù hợp với cả mẹ lẫn bố đứa trẻ. Y học đã chứng minh được những trường hợp này do người mẹ mắc chứng chimerism — trường hợp mà người mẹ khi mang bầu đã bắt đầu với đa thai. Sau đó, tế bào của một thai khỏe hơn sẽ hấp thụ tế bào của thai song sinh và chiếm lấy, mang nó trở thành một phan cơ thé minh và có hai mã di truyền khác nhau — hai chuỗi ADN khác nhau'”.
Do đó, đứa trẻ do người mẹ sinh ra nhưng lại mang ADN của thai song sinh đã bị người mẹ của đứa trẻ chiếm lấy lúc còn trong bụng bà ngoại của đứa trẻ. Có những trường hợp, người phụ nữ sinh ra đứa trẻ và bỏ rơi nó cho người cha của nó ngay sau khi sinh con vì nhiều lý do khác nhau. Vi dụ: chi A sau khi sinh con đã để lại con cho bố của nó là anh B. Hai người không có đăng ký kết hôn và chưa làm Giấy Khai sinh cho con.
Sau đó, anh B lay người phụ nữ khác là chị C làm vợ, đồng thời ghi tên '° Xem thêm Hội chứng chimerism tại địa chỉ: https://science.