Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các mối quan hệ xã hội vượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia ngày càng gia tăng, trong đó quan hệ hôn nhân và gia đình giữ vị trí quan trọng. Tại Việt Nam, quá trình mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa và hợp tác lao động, giáo dục đã thúc đẩy sự hình thành nhiều cuộc hôn nhân giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài cũng như giữa những người có quốc tịch khác nhau. Tuy nhiên, bên cạnh việc thỏa mãn nhu cầu chính đáng về hạnh phúc cá nhân, thực tiễn nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực như lợi dụng hôn nhân vì mục đích kinh tế, nhập cư bất hợp pháp, hoạt động môi giới hôn nhân trái phép biến tướng thành hành vi lừa đảo, mua bán người qua biên giới, bạo lực gia đình và tranh chấp quyền nuôi con, tài sản. Sự bất cập trong nhận thức pháp luật cùng những khoảng trống, vướng mắc trong hệ thống quy định hiện hành đòi hỏi việc nghiên cứu chuyên sâu về chế định này.
Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trong những năm gần đây; làm rõ các điểm tiến bộ và những mặt còn hạn chế, vướng mắc trong hệ thống pháp luật thực định; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, đồng thời hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về kết hôn có yếu tố nước ngoài, bao gồm khái niệm, đặc điểm, các nguyên tắc điều chỉnh và ý nghĩa pháp lý của việc ghi nhận quan hệ này.
- Phân tích thực trạng quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam trong giai đoạn gần đây, xem xét tác động của dịch bệnh Covid-19 và đánh giá hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn.
- Đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật hiện hành, chỉ ra những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi; trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị lập pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn thi hành các quy định này.
- Phạm vi không gian: Tập trung vào các trường hợp: công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam hoặc tại nước ngoài; người nước ngoài kết hôn với nhau tại Việt Nam; công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài kết hôn với nhau. Tác giả xác định không nghiên cứu các trường hợp kết hôn trái pháp luật nằm ngoài phạm vi điều chỉnh thông thường.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và đánh giá hệ thống pháp luật cùng thực tiễn áp dụng từ năm 2014 đến tháng 9 năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và nền tảng pháp lý:
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Khung thể chế và quy phạm pháp lý làm cơ sở phân tích bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013: Quy định nền tảng về quyền con người, quyền công dân, quyền tự do kết hôn và bảo hộ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Đặc biệt là Chương VIII về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, các quy định tại Điều 8 (điều kiện kết hôn), Điều 121 (nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp), Điều 126 (kết hôn có yếu tố nước ngoài).
- Luật Hộ tịch năm 2014: Các điều khoản quy định về phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch tại Điều 7, Điều 37, Điều 38, Điều 53.
- Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014), Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014.
- Hệ thống văn bản dưới luật: Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Nghị định số 87/2020/NĐ-CP, Thông tư số 04/2020/TT-BTP, Thông tư số 01/2022/TT-BTP.
- Điều ước quốc tế: Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế và các Hiệp định tương trợ tư pháp (HĐTTTP) song phương mà Việt Nam đã ký kết (với Liên Xô cũ, Ba Lan, Tiệp Khắc cũ, Cuba, Hungary, Bulgaria, Lào, Algérie, Belarus...).
Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống và liên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ nội dung các quy phạm pháp luật, bóc tách các yếu tố cấu thành quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
- Phương pháp lịch sử: Khảo cứu quá trình phát triển của các quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử của Việt Nam.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia (Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Mỹ, Ai Cập, Malaysia, Úc) và các điều ước quốc tế.
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Khái quát hóa từ các trường hợp thực tiễn để rút ra nhận định chung về hiệu quả áp dụng pháp luật.
- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu thứ cấp để minh họa cho các luận điểm.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu nghiên cứu được khai thác từ cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật quốc gia, cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, số liệu công bố từ Tổng cục Thống kê Hàn Quốc (năm 2019), số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, cùng hệ thống giáo trình, tạp chí chuyên ngành Luật học, Tòa án nhân dân và các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước (như Nông Quốc Bình, Nguyễn Hồng Bắc, Nguyễn Thị Khánh Ngọc, Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Minh Tú, Lê Quốc Nghĩa, Hà Thị Nhung).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát chung về kết hôn có yếu tố nước ngoài
Chương này tập trung xây dựng nền tảng lý luận, phân tích các yếu tố tác động và điểm lại tiến trình lập pháp của Việt Nam:
- Khái niệm và dấu hiệu: Phân tích ngữ nghĩa học và khoa học pháp lý, khẳng định kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng. Yếu tố nước ngoài trong kết hôn được xác định căn cứ theo khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 dựa trên ba tiêu chí: chủ thể tham gia (người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài), sự kiện pháp lý (đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài), và khách thể/tài sản liên quan ở nước ngoài.
- Ý nghĩa điều chỉnh: Việc ban hành khung pháp lý điều chỉnh phục vụ 6 mục đích cốt lõi: định hướng phát triển quan hệ xã hội lành mạnh; hỗ trợ quản lý nhà nước; bảo đảm quyền con người và quyền tự do kết hôn; tạo căn cứ giải quyết xung đột, tranh chấp pháp lý; thúc đẩy và bảo vệ các gia đình đa văn hóa; giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế nhằm khẳng định chủ quyền pháp lý quốc gia.
- Các yếu tố tác động: Quy định pháp luật chịu sự chi phối chặt chẽ từ 4 nhóm yếu tố: chính trị (đường lối đối ngoại, độc lập chủ quyền); kinh tế (sự gia tăng dòng vốn FDI, tiêu biểu như các tập đoàn Samsung, LG, Hyosung, Hyundai từ Hàn Quốc kéo theo sự dịch chuyển lao động); văn hóa - xã hội (sự khác biệt về tôn giáo, phong tục, ngôn ngữ giữa phương Đông và phương Tây); vị trí địa lý (Việt Nam có 4.639 km đường biên giới đất liền tiếp giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia, hình thành nhu cầu kết hôn đặc thù khu vực biên giới).
- Lịch sử lập pháp: Khóa luận hệ thống hóa sự phát triển của pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử chính:
| Thời kỳ lịch sử |
Văn bản điều chỉnh tiêu biểu |
Đặc điểm quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài |
| Phong kiến |
Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ |
Quy định mang tính sơ khai, chủ yếu phục vụ hôn nhân chính trị, ngoại giao giữa hoàng tộc với láng giềng; chưa có chế định pháp lý riêng biệt. |
| Pháp thuộc |
Dân pháp điển Bắc Kỳ 1931, Dân pháp điển Trung Kỳ 1936, Pháp quy giản yếu Nam Kỳ 1883 |
Mô phỏng Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804; quy định rải rác trong luật dân sự, tập trung xử lý vấn đề quốc tịch của phụ nữ khi lấy chồng Pháp/ngoại quốc. |
| Trước 1975 (Miền Nam) |
Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64, Bộ Dân luật 1972 |
Có các điều khoản cụ thể (như Điều 70, Điều 125) quy định về điều kiện, thủ tục công nhận hôn thú lập tại nước ngoài hoặc với người nước ngoài. |
| Từ 1945 đến trước 2014 |
Luật HN&GĐ 1959, 1986, 2000; Pháp lệnh năm 1993; các Nghị định 184/CP, 68/2002/NĐ-CP, 24/2013/NĐ-CP |
Bước chuyển biến quan trọng từ việc thiếu quy định sang ban hành Pháp lệnh năm 1993 (văn bản chuyên biệt đầu tiên), tiếp đó Luật HN&GĐ 2000 dành riêng một chương quy định chi tiết. |
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn có yếu tố nước ngoài
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định điều chỉnh trực tiếp quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài:
- Nguyên tắc áp dụng: Gồm nguyên tắc chung (tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân phù hợp pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế theo nguyên tắc Pacta sunt servanda; bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài và không phân biệt đối xử với người nước ngoài; áp dụng luật nước ngoài nhưng không được trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam) và nguyên tắc chuyên biệt (xác định pháp luật áp dụng dựa trên luật quốc tịch, luật nơi cư trú, luật nơi có mối liên hệ gắn bó nhất hoặc luật tòa án lex fori).
- Điều kiện kết hôn: Quy định tại Điều 8 và Điều 126 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
- Độ tuổi: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên (tính đủ ngày, tháng, năm theo giấy tờ hộ tịch).
- Sự tự nguyện: Hoàn toàn do hai bên tự quyết định, cấm mọi hành vi cưỡng ép, lừa dối, yêu sách của cải.
- Năng lực hành vi dân sự: Người kết hôn không bị mất năng lực hành vi dân sự (phải có giấy xác nhận y tế chứng minh không mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi).
- Không thuộc trường hợp cấm kết hôn: Cấm kết hôn giả tạo; cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác; cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời, giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, người từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng - con dâu, mẹ vợ - con rể, bố dượng - con riêng của vợ, mẹ kế - con riêng của chồng.
- Giới tính: Quan hệ hôn nhân phải giữa hai người khác giới tính. Luật năm 2014 đã bãi bỏ điều cấm kết hôn đồng giới nhưng quy định "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính".
- Thẩm quyền đăng ký kết hôn:
- Ủy ban nhân dân cấp huyện: Nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa các công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; hoặc nơi cư trú của một trong hai bên là người nước ngoài có yêu cầu đăng ký tại Việt Nam (theo Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014).
- Ủy ban nhân dân cấp xã khu vực biên giới: Đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú tại xã biên giới với công dân của nước láng giềng thường trú tại đơn vị hành chính tương đương tiếp giáp (Điều 7 Luật Hộ tịch năm 2014, Điều 18 Nghị định 123/2015/NĐ-CP).
- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài: Đăng ký kết hôn cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài nếu không trái với pháp luật nước tiếp nhận và điều ước quốc tế (Điều 53 Luật Hộ tịch năm 2014).
- Cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài: Việc kết hôn đã thực hiện hợp pháp ở nước ngoài được ghi chú vào Sổ hộ tịch tại Việt Nam nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định (Điều 34 Nghị định 123/2015/NĐ-CP).
- Hồ sơ và thủ tục: Hồ sơ gồm tờ khai theo mẫu, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân/độc thân (giá trị 6 tháng), giấy khám chuyên khoa tâm thần (giá trị 6 tháng), bản sao hộ chiếu/thẻ cư trú, trích lục ly hôn (nếu có), văn bản đồng ý của đơn vị quản lý đối với cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang. Thủ tục được thực hiện trực tiếp hoặc trực tuyến qua hệ thống Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo Nghị định số 87/2020/NĐ-CP và Thông tư số 01/2022/TT-BTP.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài và một số kiến nghị
Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng và đề xuất các định hướng hoàn thiện:
- Đánh giá thực trạng: Việc phân cấp thẩm quyền đăng ký kết hôn về UBND cấp huyện và UBND cấp xã biên giới đã tạo điều kiện thuận lợi, tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân và giảm tải áp lực cho cấp tỉnh. Việc chuyển đổi số trong công tác hộ tịch từng bước chuẩn hóa dữ liệu. Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại tình trạng kết hôn giả tạo để xuất khẩu lao động hoặc định cư; sự bất cập trong khâu phỏng vấn, kiểm tra tính tự nguyện; khó khăn trong việc xác minh tình trạng hôn nhân của người nước ngoài do khác biệt ngôn ngữ, thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự; các vấn đề phát sinh từ dịch bệnh Covid-19 làm gián đoạn thủ tục đi lại và xác nhận giấy tờ.
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật: Bổ sung quy định bắt buộc khám sức khỏe tiền hôn nhân toàn diện (không chỉ riêng tâm thần mà cả các bệnh truyền nhiễm di truyền); chuẩn hóa quy trình thẩm tra hồ sơ và tiêu chí xác định mục đích hôn nhân; hoàn thiện cơ chế giải quyết xung đột pháp luật trong tư pháp quốc tế và đẩy mạnh ký kết các Hiệp định tương trợ tư pháp mới.
- Kiến nghị nâng cao hiệu quả thi hành: Nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ ngoại ngữ và kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp huyện, cấp xã; tăng cường ứng dụng đồng bộ Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử quốc gia; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân khu vực biên giới nhằm hạn chế nạn mua bán người và lừa đảo hôn nhân.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính và số liệu ghi nhận trong văn bản:
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài từ thời kỳ phong kiến đến thời điểm tháng 9 năm 2023.
- Dẫn chứng số liệu thực tiễn phản ánh nhu cầu và xu hướng xã hội:
- Khoảng 5,3 triệu người Việt Nam định cư tại 130 quốc gia và vùng lãnh thổ theo số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài.
- Tỷ lệ phụ nữ Việt Nam kết hôn với nam giới Hàn Quốc chiếm 39,9% trong tổng số các cuộc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Hàn Quốc theo số liệu thống kê năm 2019 của cơ quan thống kê nước này.
- Số liệu 12.000 chữ ký ủng hộ bình đẳng hôn nhân được gửi đến Quốc hội trong chiến dịch "Tôi đồng ý" năm 2013 do Viện iSEE và Trung tâm ICS khởi xướng.
- Địa bàn nghiên cứu bao quát tuyến biên giới đất liền dài 4.639 km chung với ba quốc gia láng giềng.
Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Hoàn thiện khung pháp lý: Đề xuất bổ sung quy định bắt buộc khám sức khỏe tiền hôn nhân trong Luật Hôn nhân và gia đình; hoàn thiện các hướng dẫn chi tiết về phát hiện và xử lý hành vi kết hôn giả tạo; cụ thể hóa cơ chế hợp tác quốc tế trong ghi chú hộ tịch.
- Tổ chức thực hiện: Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp huyện và cấp xã; hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật phục vụ vận hành Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo Nghị định số 87/2020/NĐ-CP; tăng cường kiểm tra liên ngành nhằm ngăn chặn các đường dây môi giới kết hôn "chui" lừa đảo phụ nữ và trẻ em.
Đóng góp của đề tài:
- Bổ sung và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về khái niệm "kết hôn có yếu tố nước ngoài" trong bối cảnh văn bản pháp luật hiện hành chưa có một điều luật định nghĩa riêng biệt, độc lập mà chỉ giải thích gián tiếp qua khái niệm chung về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài.
- Cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới trong lĩnh vực hộ tịch và chính phủ số (như Nghị định 87/2020/NĐ-CP, Thông tư 01/2022/TT-BTP), tiếp cận vấn đề dưới góc nhìn bình đẳng giới hiện đại, vượt qua định kiến truyền thống về việc chỉ phụ nữ lấy chồng ngoại quốc, đồng thời mở rộng phân tích tác động của đại dịch Covid-19 đối với thủ tục hành chính tư pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn từ năm 2014 đến tháng 9 năm 2023 và chủ yếu tập trung vào các trường hợp kết hôn hợp pháp, không đi sâu phân tích toàn diện các vụ việc vi phạm pháp luật hình sự phức tạp liên quan đến tội phạm buôn bán người hay hôn nhân bất hợp pháp tại các vùng ngoài lãnh thổ Việt Nam.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp tài sản, ly hôn và quyền nuôi dưỡng con cái có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh các điều ước quốc tế đa phương mới; đánh giá sâu hơn tác động toàn diện của việc kết nối liên thông dữ liệu dân cư quốc gia với dữ liệu hộ tịch quốc tế.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Tư pháp quốc tế; cán bộ làm công tác tư pháp - hộ tịch tại UBND cấp huyện, cấp xã; cán bộ ngoại giao, lãnh sự; các luật sư và người làm công tác bảo vệ quyền phụ nữ, trẻ em.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao: Phần hệ thống hóa tiến trình lập pháp qua các thời kỳ lịch sử tại Chương 1 và phần phân tích chi tiết về thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục đăng ký kết hôn hiện hành tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, một quan hệ kết hôn được xác định là có yếu tố nước ngoài khi nào?
Căn cứ khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài khi thuộc một trong các trường hợp: ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cả hai bên là công dân Việt Nam nhưng căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ theo pháp luật nước ngoài hoặc phát sinh tại nước ngoài; hoặc có tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
2. Thẩm quyền đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài hiện nay được phân cấp như thế nào?
Theo Luật Hộ tịch năm 2014, thẩm quyền không còn thuộc UBND cấp tỉnh như trước đây mà được phân cấp:
- UBND cấp huyện: Nơi cư trú của công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài tại Việt Nam.
- UBND cấp xã khu vực biên giới: Đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam thường trú tại xã biên giới với công dân nước láng giềng thường trú ở khu vực giáp ranh.
- Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài: Thực hiện đăng ký cho công dân Việt Nam cư trú tại nước sở tại.
3. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào về điều kiện độ tuổi kết hôn?
Điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định độ tuổi kết hôn là nam từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ từ đủ 18 tuổi trở lên. Độ tuổi này được tính chính xác theo ngày, tháng, năm sinh ghi trên giấy tờ hộ tịch (đủ tròn 12 tháng mới tính một tuổi), bảo đảm sự đồng bộ với độ tuổi chịu trách nhiệm dân sự của người thành niên.
4. Hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài bắt buộc phải có giấy khám sức khỏe nào?
Hồ sơ bắt buộc phải có giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận người đó không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình. Giấy tờ này có giá trị trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày cấp.
5. Pháp luật Việt Nam xử lý như thế nào đối với trường hợp kết hôn giữa những người cùng giới tính?
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã chính thức bãi bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính của Luật năm 2000, tuy nhiên tại khoản 2 Điều 8 luật này quy định: "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính". Do đó, cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam không thực hiện việc đăng ký kết hôn và không cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho các cặp đôi cùng giới.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Thùy Dương đã làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, phân tích tiến trình lịch sử lập pháp và hệ thống hóa các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế định kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nghiên cứu đã chỉ rõ vai trò của việc phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch và chuyển đổi số, đồng thời chỉ ra những vướng mắc thực tiễn trong công tác quản lý và phòng ngừa các hành vi tiêu cực. Các kiến nghị hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi được đề xuất có tính khả thi, góp phần bảo vệ quyền con người, quyền tự do kết hôn và bảo đảm trật tự quản lý nhà nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.