Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, chế định chế độ tài sản của vợ chồng giữ vai trò là cơ sở pháp lý để xác định quyền, nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng cũng như trong quan hệ với người thứ ba. Lịch sử lập pháp cận đại Việt Nam từng ghi nhận chế độ tài sản ước định dưới tên gọi "Hợp đồng hôn nhân" hoặc "Khế ước hôn nhân" (Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936, Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64, Bộ luật Dân sự 1972). Tuy nhiên, các văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, 1986 và 2000 chỉ thừa nhận duy nhất chế độ tài sản theo luật định. Nhằm thể chế hóa quyền tự định đoạt tài sản theo Hiến pháp năm 2013 và đáp ứng yêu cầu minh bạch hóa quan hệ sở hữu trong nền kinh tế thị trường, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã chính thức ghi nhận lại chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận.

Mặc dù chế định này mở ra cơ chế linh hoạt cho các cặp vợ chồng trước khi kết hôn, quá trình triển khai thực tiễn phát sinh nhiều vướng mắc pháp lý. Các quy định về điều kiện có hiệu lực, trình tự công chứng, thẩm quyền tuyên bố vô hiệu và giải quyết hậu quả pháp lý còn chưa cụ thể, dẫn đến nguy cơ thỏa thuận bị tuyên vô hiệu, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của vợ chồng hoặc người thứ ba. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vi Trung Kiên (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2025, người hướng dẫn: PGS.TS Ngô Thị Hường) tập trung giải quyết toàn diện vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định về thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và quy định pháp luật thực định về thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, từ đó đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành. Để đạt được mục đích trên, đề tài thực hiện 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu, bao gồm khái niệm, đặc điểm của chế độ tài sản ước định và các tiêu chí vô hiệu.
  2. Đánh giá thực trạng pháp luật về thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các trường hợp vô hiệu, thủ tục tuyên bố và hậu quả pháp lý).
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận bị vô hiệu tại cơ quan tư pháp và tổ chức hành nghề luật.
  4. Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy phạm pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật điều chỉnh thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu.
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Khảo cứu các quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn liên quan; khảo sát thực tiễn áp dụng từ ngày 01/01/2015 (thời điểm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành) đến năm 2025 trên phạm vi cả nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các quan điểm học thuật tiêu biểu về chế độ tài sản của vợ chồng tại Việt Nam: quan điểm của PGS.TS Nguyễn Văn Cừ (2008), ThS. Nguyễn Thị Kim Dung (2014), ThS. Nguyễn Thị Thu Thủy (2015), ThS. Nguyễn Thị Thúy Hồng (2018) và luận án tiến sĩ của TS. Nguyễn Thị Lan (2023). Tác giả kế thừa định nghĩa: chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là hệ thống quy phạm điều chỉnh quan hệ sở hữu tài sản giữa vợ chồng dựa trên văn bản thỏa thuận được xác lập trước khi kết hôn, có hiệu lực từ thời điểm đăng ký kết hôn và tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm căn cứ xác lập tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của nhau và đối với bên thứ ba, cùng nguyên tắc phân chia tài sản. Chế định này không bao gồm vấn đề nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thừa kế sau khi hôn nhân chấm dứt.

Về phương diện so sánh pháp luật, công trình đối chiếu quy định của Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế:

  • Điều 1465 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (vô hiệu các thỏa thuận tiền hôn nhân trái trật tự công cộng, đạo đức hoặc chọn luật nước ngoài áp dụng).
  • Điều 1387 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (tôn trọng quyền thỏa thuận tài sản miễn không trái thuần phong mỹ tục).
  • Bộ nguyên tắc Luật Gia đình Châu Âu (nghĩa vụ minh bạch thông tin tài sản và các nghĩa vụ nợ trước khi xác lập thỏa thuận).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được sử dụng làm cơ sở đối chiếu gồm: Hiến pháp năm 2013 (Điều 26, 36); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 117, 122, 127, 129, 644); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (các điều 8, 9, 11, 12, 28, 29, 30, 31, 32, 47, 48, 50, 57, 65, 110-115); Luật Hộ tịch năm 2014; Luật Công chứng năm 2014; Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; Nghị định số 123/2015/NĐ-CP; Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; Thông tư số 04/2020/TT-BTP.

Phương pháp luận chỉ đạo toàn bộ nghiên cứu là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về hôn nhân và gia đình. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và bình luận: Mổ xẻ các cấu thành pháp lý của Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, làm rõ các trường hợp vô hiệu tuyệt đối, vô hiệu tương đối, vi phạm điều kiện tự nguyện và hình thức.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các luồng quan điểm lý luận và liên kết thực tiễn xét xử để khái quát thành các lỗ hổng lập pháp.
  • Phương pháp đánh giá: Nhận định tính khả thi, sự đồng bộ giữa luật chuyên ngành và luật chung (Bộ luật Dân sự, Luật Hộ tịch, Luật Công chứng).

Nguồn dữ liệu thực chứng được tác giả thu thập từ:

  • Cổng thông tin điện tử Công bố bản án, quyết định của Tòa án nhân dân tối cao (https://congbobanan.vn/).
  • Dữ liệu thực tiễn và phỏng vấn chuyên sâu Luật sư Trần Thanh Tùng (Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia tỉnh Quảng Ninh, theo Giấy đăng ký hoạt động số 02/TP/ĐKHĐ-TT ngày 16/01/2025).
  • Các hồ sơ án thực tế, trọng tâm là vụ án tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu giữa ông Vũ Huy Q và bà Lâm Thanh K (Bản án sơ thẩm số 51/2017/DSST, Bản án phúc thẩm số 504/2017/DS-PT, Quyết định giám đốc thẩm số 217/2018/DS-GĐT).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Chương này tập trung phân tích bản chất pháp lý, đặc điểm của chế độ tài sản theo thỏa thuận và chi tiết hóa 04 trường hợp thỏa thuận bị tuyên bố vô hiệu theo Điều 50 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP:

Căn cứ vô hiệu theo Điều 50 Luật HN&GĐ 2014 Nội dung pháp lý cụ thể Hệ quả và liên hệ quy phạm
Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của GDDS (Điểm a Khoản 1 Điều 50) Vi phạm Điều 117 BLDS 2015: Chủ thể chưa đủ 18 tuổi, mất năng lực hành vi dân sự; không tự nguyện (bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép theo Điều 127 BLDS); kết hôn trái pháp luật bị hủy theo Điều 12 Luật HN&GĐ 2014. Khi việc kết hôn trái pháp luật bị hủy, quan hệ vợ chồng không tồn tại nên thỏa thuận vô hiệu toàn bộ. Nếu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân từ lúc đủ điều kiện, thỏa thuận chỉ có hiệu lực từ thời điểm đó (vô hiệu một phần trước đó).
Vi phạm nguyên tắc chung về chế độ tài sản (Điểm b Khoản 1 Điều 50) Vi phạm các điều 29, 30, 31, 32 Luật HN&GĐ 2014: Vi phạm quyền bình đẳng (không tính công sức lao động nội trợ); vi phạm nghĩa vụ bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình; tự ý định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất; vi phạm quyền lợi bên thứ ba ngay tình đối với tài khoản, động sản không đăng ký. Thỏa thuận để một bên toàn quyền định đoạt nơi ở duy nhất làm bên kia không có chỗ ở tối thiểu, hoặc quy định chỉ một người chịu nghĩa vụ chi phí gia đình sẽ bị tuyên vô hiệu.
Vi phạm nghiêm trọng quyền cấp dưỡng, thừa kế (Điểm c Khoản 1 Điều 50) Thỏa thuận nhằm tước bỏ hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên/con tàn tật (Điều 110-115 Luật HN&GĐ); tước quyền thừa kế của người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 644 BLDS 2015); xâm phạm quyền của cha mẹ, con cái. Ví dụ thực tế: Chuyển toàn bộ tài sản cho vợ/chồng mới để trốn nghĩa vụ cấp dưỡng cho con riêng, hoặc thỏa thuận để lại toàn bộ tài sản cho một bên nhằm tước phần di sản luật định của người con bị mất năng lực hành vi dân sự.
Vi phạm điều kiện bắt buộc về hình thức (Khoản 2 Điều 117 BLDS, Điều 47 Luật HN&GĐ) Không lập thành văn bản; không được công chứng hoặc chứng thực; văn bản xác lập sau thời điểm đăng ký kết hôn. Hôn ước miệng hoàn toàn không có giá trị pháp lý. Bất cập xung đột với Điều 129 BLDS 2015 về việc thực hiện hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch không công chứng. Tác giả khẳng định thỏa thuận tiền hôn nhân không áp dụng Điều 129 BLDS.

Về thủ tục và hậu quả pháp lý: Chủ thể có quyền yêu cầu tuyên bố vô hiệu bao gồm vợ, chồng, người bị xâm phạm quyền lợi hoặc người giám hộ của họ. Khi thỏa thuận bị tuyên vô hiệu toàn bộ, quan hệ tài sản của vợ chồng mặc nhiên áp dụng chế độ tài sản theo luật định từ ngày đăng ký kết hôn. Khi bị vô hiệu một phần, phần không vô hiệu vẫn có giá trị áp dụng, trừ trường hợp các bên lựa chọn áp dụng toàn bộ chế độ luật định.

Chương 1 cũng chỉ ra 04 điểm nghẽn của khung pháp lý hiện hành:

  1. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chưa quy định rõ việc công chứng, chứng thực là điều kiện có hiệu lực bắt buộc để Tòa án căn cứ tuyên vô hiệu theo Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  2. Luật chưa dự liệu quyền tái xác lập thỏa thuận của vợ chồng sau khi thỏa thuận tiền hôn nhân bị tuyên vô hiệu.
  3. Thiếu quy định xử lý hiệu lực thỏa thuận trong trường hợp kết hôn trái thẩm quyền đăng ký hộ tịch.
  4. Luật Hộ tịch năm 2014 (Khoản 2 Điều 17) và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP chưa có cơ chế ghi nhận việc lựa chọn chế độ tài sản thỏa thuận vào Giấy chứng nhận kết hôn, gây khó khăn cho Tòa án và bên thứ ba khi xác định chế độ tài sản thực tế.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu và một số kiến nghị

Chương 2 đánh giá thực trạng xét xử, giải quyết tranh chấp và phân tích nguyên nhân của các hạn chế:

  1. Thực trạng áp dụng và số liệu thực tiễn:

    • Dữ liệu rà soát toàn bộ các bản án công khai trên trang congbobanan.vn tính đến năm 2025 ghi nhận: Chưa có bất kỳ bản án, quyết định nào của Tòa án nhân dân các cấp giải quyết trực tiếp yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng.
    • Số liệu khảo sát tại Trung tâm Tư vấn pháp luật thuộc Hội Luật gia tỉnh Quảng Ninh (từ năm 2018 đến 2025 - hơn 06 năm hoạt động): Đơn vị chỉ tiếp nhận duy nhất 01 trường hợp yêu cầu tư vấn lập thỏa thuận chế độ tài sản trước hôn nhân (khách hàng có khối tài sản lớn muốn phòng ngừa rủi ro), và ghi nhận 0 trường hợp có yêu cầu tư vấn hoặc tranh chấp về tuyên bố vô hiệu thỏa thuận.
  2. Thực trạng nhầm lẫn áp dụng pháp luật qua vụ án điển hình: Khóa luận phân tích sự nhầm lẫn nghiêm trọng giữa "Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng" (lập trước kết hôn) và "Văn bản cam kết/thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân" (theo chế độ luật định) qua vụ án giữa ông Vũ Huy Q và bà Lâm Thanh K:

    • Tình tiết vụ việc: Ông Q và bà K kết hôn năm 2005. Ngày 19/06/2013, hai bên ký "văn bản thỏa thuận tài sản riêng của vợ chồng" tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị T xác nhận nhà đất tại quận Gò Vấp, TP.HCM là tài sản riêng của bà K. Năm 2016, ông Q khởi kiện yêu cầu tuyên bố văn bản vô hiệu.
    • Quá trình tố tụng: Tòa sơ thẩm (Bản án số 51/2017/DSST) tuyên văn bản vô hiệu do vi phạm điều cấm. Viện trưởng VKSND quận Gò Vấp kháng nghị và TAND TP.HCM (Bản án phúc thẩm số 504/2017/DS-PT) hủy án sơ thẩm, đình chỉ vụ án vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện 03 năm theo giao dịch dân sự.
    • Kháng nghị và Giám đốc thẩm: Viện trưởng VKSND cấp cao tại TP.HCM ban hành Kháng nghị số 55/2018/QĐKNGĐT-VKS-DS cho rằng văn bản trên là "thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng", vi phạm Điều 47, 48 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên vô hiệu ngay từ khi xác lập. Quyết định giám đốc thẩm số 217/2018/DS-GĐT của Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao tại TP.HCM đã chấp nhận kháng nghị, hủy án phúc thẩm.
    • Đánh giá của tác giả: Nhận định của VKSND cấp cao coi văn bản lập năm 2013 là thỏa thuận chế độ tài sản theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 là không chính xác về mặt lý luận và thời điểm áp dụng luật, bởi văn bản lập trong thời kỳ hôn nhân trước khi Luật năm 2014 có hiệu lực chỉ là phân chia/cam kết tài sản riêng thuộc chế độ tài sản pháp định.
  3. Nguyên nhân vướng mắc:

    • Chế định còn mới, các cặp đôi trẻ chuẩn bị kết hôn thường chưa có khối tài sản độc lập tích lũy lớn và thiếu kiến thức pháp luật.
    • Rào cản văn hóa gia đình truyền thống phương Đông ("thuận vợ thuận chồng", "của chồng công vợ"), tâm lý e ngại việc phân định rạch ròi tài sản trước khi cưới sẽ ảnh hưởng đến tình cảm hôn nhân.
    • Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của các cơ quan chức năng còn gián đoạn, chỉ tập trung giai đoạn đầu ban hành luật.
    • Nhận thức của người dân và một bộ phận Thẩm phán, Kiểm sát viên, Công chứng viên còn nhầm lẫn giữa thỏa thuận xác lập chế độ tài sản với các văn bản thỏa thuận tài sản riêng phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận mang lại các kết quả nghiên cứu cụ thể:

  • Làm rõ bản chất pháp lý và hệ thống hóa 04 nhóm căn cứ vô hiệu của thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, gắn kết với các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Cung cấp số liệu khảo sát thực tế chứng minh sự vắng bóng của các vụ việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận chế độ tài sản tại hệ thống Tòa án (congbobanan.vn) và tổ chức tư vấn pháp luật tại địa phương (Quảng Ninh) trong hơn một thập kỷ áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • Phân tích và chỉ rõ điểm sai lệch trong đường lối áp dụng pháp luật của cơ quan tố tụng cấp cao qua vụ án tranh chấp thực tế (Quyết định giám đốc thẩm số 217/2018/DS-GĐT), đưa ra ranh giới pháp lý rõ ràng giữa văn bản thỏa thuận chế độ tài sản tiền hôn nhân và thỏa thuận phân định tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân.

Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật do tác giả đề xuất:

  1. Sửa đổi, bổ sung Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nhằm quy định rõ: hình thức văn bản có công chứng/chứng thực là "điều kiện có hiệu lực" bắt buộc của thỏa thuận chế độ tài sản; phân định rành mạch thời điểm có hiệu lực của văn bản thỏa thuận (ngày công chứng) và thời điểm phát sinh hiệu lực của chế độ tài sản (ngày đăng ký kết hôn).
  2. Bổ sung điều khoản cho phép vợ chồng được xác lập lại hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản thỏa thuận chế độ tài sản sau khi kết hôn nếu thỏa thuận tiền hôn nhân bị Tòa án tuyên bố vô hiệu, nhằm bảo đảm quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu.
  3. Bổ sung quy định giải quyết hiệu lực của thỏa thuận tài sản đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật nhưng sau đó được Tòa án công nhận, hoặc trường hợp đăng ký kết hôn sai thẩm quyền hộ tịch.
  4. Sửa đổi Luật Hộ tịch năm 2014 và văn bản hướng dẫn (Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, Thông tư số 04/2020/TT-BTP) theo hướng bổ sung mục ghi chú việc áp dụng "Chế độ tài sản theo thỏa thuận" vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký kết hôn, tạo cơ sở pháp lý minh bạch cho bên thứ ba và Tòa án khi xử lý giao dịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu bắt nguồn từ chính thực tiễn thi hành pháp luật: do chế độ tài sản theo thỏa thuận còn ít được người dân lựa chọn, cổng thông tin công bố bản án quốc gia chưa ghi nhận vụ án nào về việc tuyên bố vô hiệu thỏa thuận chế độ tài sản. Do đó, tác giả chưa thể phân tích chuỗi bản án phong phú về riêng loại việc này mà phải khai thác gián tiếp qua các vụ việc nhầm lẫn về văn bản cam kết tài sản riêng và nguồn tư vấn tại một địa phương cụ thể (tỉnh Quảng Ninh).

Hướng nghiên cứu tiếp nối có thể mở rộng khảo sát thực tế tại các đô thị lớn có tỷ lệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài cao (Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh), nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế liên thông cơ sở dữ liệu công chứng - hộ tịch - đăng ký tài sản quốc gia, và so sánh sâu hơn kinh nghiệm lập pháp của các nước có hệ thống tài sản ước định phát triển.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Hôn nhân & Gia đình tham khảo khung phân tích lý luận về chế độ tài sản ước định.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư, Công chứng viên tham khảo phần phân biệt bản chất pháp lý giữa thỏa thuận chế độ tài sản tiền hôn nhân và thỏa thuận phân chia tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân để tránh sai sót về thời hiệu và căn cứ áp dụng pháp luật khi giải quyết án.
  • Các cặp đôi chuẩn bị kết hôn cần tìm hiểu quy chuẩn pháp lý khi soạn thảo văn bản thỏa thuận tài sản tiền hôn nhân nhằm hạn chế tối đa rủi ro bị tuyên bố vô hiệu.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt thế nào giữa thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản cam kết/thỏa thuận tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân?
Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng (chế độ ước định) bắt buộc phải lập thành văn bản có công chứng/chứng thực trước khi kết hôn, xác lập khung quy tắc điều chỉnh toàn bộ tài sản chung - riêng trong suốt thời kỳ hôn nhân và có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn. Ngược lại, văn bản cam kết hoặc thỏa thuận tài sản riêng trong hôn nhân là hành vi định đoạt tài sản cụ thể phát sinh trong thời kỳ hôn nhân khi vợ chồng đang áp dụng chế độ tài sản theo luật định.

2. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu toàn bộ khi nào theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014?
Thỏa thuận bị vô hiệu toàn bộ khi: vi phạm các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 (chủ thể không đủ năng lực hành vi, bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép, vi phạm điều cấm/đạo đức); việc kết hôn trái pháp luật bị Tòa án ra quyết định hủy; hoặc nội dung thỏa thuận vi phạm toàn bộ các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng, đáp ứng nhu cầu thiết yếu gia đình, bảo đảm nhà ở duy nhất và bảo vệ quyền người thứ ba ngay tình (các điều 29, 30, 31, 32 Luật Hôn nhân và Gia đình).

3. Khóa luận ghi nhận dữ liệu thực tế nào về số lượng vụ án tuyên bố vô hiệu thỏa thuận chế độ tài sản tại Việt Nam?
Dữ liệu trên trang công bố bản án của TAND Tối cao (congbobanan.vn) ghi nhận chưa có vụ án nào yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng. Khảo sát tại Trung tâm Tư vấn pháp luật - Hội Luật gia tỉnh Quảng Ninh từ năm 2018 đến 2025 cũng chỉ ghi nhận 01 trường hợp hỏi tư vấn xác lập thỏa thuận và 0 trường hợp yêu cầu tuyên bố vô hiệu.

4. Khóa luận chỉ ra bất cập lớn nhất về thủ tục công chứng, chứng thực đối với thỏa thuận tài sản tiền hôn nhân là gì?
Bất cập nằm ở sự thiếu đồng bộ giữa Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015: Luật Hôn nhân và Gia đình chưa quy định rõ việc công chứng, chứng thực là "điều kiện có hiệu lực" của thỏa thuận, gây lúng túng cho Tòa án khi xác định căn cứ tuyên vô hiệu. Đồng thời, có sự vênh nhau giữa thời điểm có hiệu lực của văn bản công chứng (ngày ký chứng nhận) và thời điểm phát sinh hiệu lực của chế độ tài sản (ngày đăng ký kết hôn).

5. Khi một thỏa thuận về chế độ tài sản bị tuyên bố vô hiệu thì quan hệ tài sản giữa vợ chồng được xử lý thế nào?
Nếu thỏa thuận bị vô hiệu toàn bộ, quan hệ tài sản giữa vợ chồng mặc nhiên được điều chỉnh theo chế độ tài sản theo luật định kể từ ngày đăng ký kết hôn. Nếu thỏa thuận bị vô hiệu một phần, phần nội dung bị tuyên vô hiệu sẽ áp dụng quy định của chế độ tài sản luật định, trong khi các phần nội dung hợp pháp còn lại vẫn tiếp tục có hiệu lực ràng buộc các bên, trừ khi vợ chồng có thỏa thuận khác.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vi Trung Kiên là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về chế định thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Tác giả đã làm sáng tỏ 04 nhóm căn cứ vô hiệu theo luật thực định, đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế và chỉ ra những điểm bất cập, mâu thuẫn giữa luật chuyên ngành với Bộ luật Dân sự, Luật Hộ tịch và Luật Công chứng. Thông qua việc phân tích dữ liệu thực tế tại Tòa án và các vụ án có sự nhầm lẫn áp dụng pháp luật, công trình đề xuất các giải pháp lập pháp xác đáng nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý, bảo vệ quyền bình đẳng của vợ chồng và sự an toàn pháp lý cho các giao dịch trong đời sống gia đình Việt Nam.