Khóa luận: Bạo lực gia đình với phụ nữ - Thực trạng và giải pháp (ĐH Luật HN)

Khóa luận luật học nghiên cứu thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ, phân tích nguyên nhân và đề xuất các giải pháp pháp lý hạn chế hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

95
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan khóa luận luật học bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Khóa luận tốt nghiệp luật học về bạo lực gia đình đối với phụ nữ là đề tài mang tính cấp thiết cao. Nghiên cứu này làm rõ hệ thống lý luận pháp lý liên quan đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự và nhân phẩm của người phụ nữ theo Hiến pháp năm 2013. Bạo lực gia đình đối với phụ nữ không đơn thuần là mâu thuẫn nội bộ gia đình. Đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến quyền con người cơ bản. Đề tài tập trung phân tích bốn dạng hành vi bạo lực phổ biến gồm bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực kinh tế và bạo lực tình dục. Nền tảng nghiên cứu dựa trên Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Bộ luật Hình sự và Bộ luật Dân sự Việt Nam. Việc nghiên cứu toàn diện chủ đề này giúp sinh viên ngành luật nắm vững phương pháp luận khoa học pháp lý. Đề tài cung cấp góc nhìn đa chiều về các chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Qua đó, công trình khẳng định vai trò tối thượng của pháp luật trong việc bảo vệ nạn nhân yếu thế và duy trì trật tự an toàn xã hội.

1.1. Khái niệm và đặc điểm bạo lực gia đình đối với phụ nữ

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với phụ nữ. Hành vi này có tính lặp đi lặp lại nhiều lần trong đời sống thường nhật. Đặc điểm nổi bật của loại bạo lực này là tính chất khép kín trong không gian riêng tư. Mối quan hệ hôn nhân hoặc thân thuộc khiến nạn nhân e ngại tố cáo. Nạn nhân thường có tâm lý cam chịu vì định kiến giới hoặc áp lực nuôi dạy con cái. Người gây bạo lực thường tận dụng sự phụ thuộc kinh tế để kiểm soát hành vi người phụ nữ. Việc nhận diện chính xác các dấu hiệu pháp lý giúp cơ quan chức năng can thiệp kịp thời.

1.2. Cơ sở pháp lý về phòng chống bạo lực gia đình ở Việt Nam

Khung pháp lý phòng chống bạo lực gia đình tại Việt Nam được xây dựng tương đối hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 xác lập nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm và bình đẳng giới. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 quy định rõ các biện pháp ngăn chặn và bảo vệ nạn nhân. Bộ luật Dân sự bảo vệ quyền nhân thân trong quan hệ hôn nhân. Bộ luật Hình sự áp dụng chế tài nghiêm khắc đối với hành vi ngược đãi, hành hung thân nhân. Hệ thống văn bản dưới luật tạo thẩm quyền cho chính quyền cơ sở xử phạt hành chính kịp thời. Các quy phạm pháp luật này tạo cơ sở vững chắc để đấu tranh loại trừ bạo lực gia đình.

II. Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong thực tiễn pháp lý

Thực trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ tại Việt Nam vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Số liệu thống kê từ các cơ quan quản lý nhà nước cho thấy số vụ việc được phát hiện có xu hướng giảm dần theo thời gian nhưng tính chất lại ngày càng nghiêm trọng. Báo cáo chính thức của Chính phủ năm 2023 ghi nhận hàng nghìn vụ bạo lực với đại đa số nạn nhân là nữ giới. Hành vi bạo hành không dừng lại ở thương tổn thể xác mà còn bao gồm tra tấn tinh thần và tước đoạt quyền tự chủ kinh tế. Nhiều vụ việc kéo dài nhiều năm mà không được phát hiện kịp thời do tâm lý giấu giếm của nạn nhân. Công tác can thiệp tại cấp cơ sở còn gặp nhiều trở ngại do phong tục tập quán lạc hậu và tư tưởng trọng nam khinh nữ. Một bộ phận cán bộ thực thi pháp luật vẫn coi bạo lực gia đình là chuyện nội bộ. Điều này dẫn đến sự chậm trễ trong xử lý vi phạm và thiếu các biện pháp bảo vệ khẩn cấp cho phụ nữ. Hậu quả để lại vô cùng nặng nề đối với sức khỏe thể chất, tâm lý nạn nhân và sự phát triển của trẻ em.

2.1. Phân tích các dạng thức bạo lực và hậu quả thực tế

Bạo lực gia đình đối với phụ nữ tồn tại dưới bốn dạng thức chủ yếu. Bạo lực thể chất biểu hiện qua hành vi đánh đập gây thương tật. Bạo lực tinh thần bao gồm lời nói lăng mạ, đe dọa hoặc cô lập nạn nhân khỏi các mối quan hệ xã hội. Bạo lực kinh tế thể hiện ở việc kiểm soát tài chính, không cho phụ nữ quyền sở hữu tài sản hợp pháp hoặc ép buộc đóng góp tài chính quá mức. Bạo lực tình dục là hành vi cưỡng ép quan hệ trái với ý muốn của người vợ. Hậu quả thực tế của các hành vi này cực kỳ sâu sắc. Nạn nhân chịu tổn thương thể xác, suy sụp tinh thần kéo dài, thậm chí rơi vào trầm cảm nặng nề.

2.2. Những bất cập trong áp dụng pháp luật xử lý bạo lực gia đình

Quá trình áp dụng pháp luật phòng chống bạo lực gia đình còn bộc lộ nhiều khoảng trống. Việc thu thập chứng cứ chứng minh hành vi bạo lực tinh thần hoặc bạo lực tình dục trong hôn nhân vô cùng khó khăn. Thủ tục áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn chậm chạp và thiếu lực lượng giám sát liên tục. Mức phạt tiền trong xử phạt vi phạm hành chính chưa đủ sức răn đe đối với người có hành vi bạo lực. Nơi tạm lánh an toàn cho nạn nhân tại các địa phương còn thiếu thốn về cơ sở vật chất. Đội ngũ cán bộ hòa giải cơ sở thường ưu tiên hàn gắn gia đình hơn là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nạn nhân nữ.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật hạn chế bạo lực gia đình với phụ nữ

Để hạn chế bạo lực gia đình đối với phụ nữ, việc thực hiện đồng bộ các giải pháp lập pháp và hành pháp là yêu cầu cấp thiết. Trước hết, cơ quan có thẩm quyền cần rà soát và hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022. Quy trình tiếp nhận tin báo và xử lý vụ việc khẩn cấp cần được tiêu chuẩn hóa trên toàn quốc. Các chế tài xử phạt hành chính và hình sự phải đủ sức răn đe đối với người thực hiện hành vi bạo hành. Bên cạnh hoàn thiện thể chế, việc xây dựng mô hình trợ giúp pháp lý miễn phí cho nạn nhân đóng vai trò then chốt. Cần mở rộng mạng lưới cơ sở lưu trú an toàn tại tuyến huyện và xã. Đội ngũ cán bộ cơ sở phải được tập huấn chuyên sâu về kỹ năng bảo vệ quyền phụ nữ và nhạy cảm giới. Hoạt động phối hợp liên ngành giữa công an, tư pháp và Hội phụ nữ cần diễn ra thường xuyên nhằm phát hiện sớm các nguy cơ bạo lực tiềm ẩn.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật và cơ chế can thiệp khẩn cấp

Nhà nước cần bổ sung hướng dẫn chi tiết về căn cứ xác định các hành vi bạo lực tinh thần và bạo lực kinh tế. Quy trình ra quyết định cấm tiếp xúc cần được rút ngắn thời gian để bảo vệ nạn nhân kịp thời. Cần quy định rõ trách nhiệm của lực lượng công an xã trong việc giám sát người bị áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc. Đồng thời, hệ thống pháp luật cần tăng mức xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi bạo hành gia đình. Việc xử lý hình sự đối với các đối tượng tái phạm cần được thực hiện kiên quyết nhằm thiết lập tính nghiêm minh của pháp luật.

3.2. Nâng cao hiệu quả tuyên truyền và hỗ trợ nạn nhân tại cơ sở

Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cần đổi mới về hình thức lẫn nội dung tiếp cận. Việc truyền thông cần xóa bỏ định kiến giới và nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền phụ nữ. Các chương trình giáo dục tiền hôn nhân nên đưa nội dung phòng chống bạo lực gia đình vào giảng dạy bắt buộc. Bên cạnh đó, chính quyền địa phương cần đầu tư kinh phí xây dựng các cơ sở lưu trú tạm thời an toàn. Mạng lưới đường dây nóng và các tổ tư vấn tâm lý, pháp lý cần hoạt động 24/7. Sự tham gia tích cực của Hội phụ nữ và các đoàn thể sẽ tạo mạng lưới bảo vệ vững chắc cho người yếu thế.

IV. Kết luận và giá trị thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp luật học

Khóa luận tốt nghiệp luật học về bạo lực gia đình đối với phụ nữ mang lại nhiều giá trị học thuật và thực tiễn sâu sắc. Đề tài đã hệ thống hóa các quan điểm pháp lý tiến bộ về bình đẳng giới và quyền con người trong quan hệ gia đình. Việc phân tích thực trạng giúp chỉ rõ những bất cập trong quy định pháp lý cũng như công tác thi hành tại cơ sở. Những kiến nghị giải pháp trong khóa luận đóng góp cơ sở khoa học cho quá trình sửa đổi, bổ sung các chính sách pháp luật trong tương lai. Đối với sinh viên ngành luật, công trình nghiên cứu này rèn luyện năng lực phân tích văn bản quy phạm pháp luật và tư duy phản biện. Đề tài mở ra các hướng tiếp cận thực tiễn trong công tác trợ giúp pháp lý cho phụ nữ bị tổn thương. Đây là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà nghiên cứu, cán bộ thực thi pháp luật và tổ chức xã hội đang hoạt động vì bình đẳng giới.

4.1. Định hướng ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn xét xử

Kết quả nghiên cứu của khóa luận cung cấp luận cứ pháp lý quan trọng cho các cơ quan tiến hành tố tụng. Việc phân tích rõ ranh giới pháp lý giữa mâu thuẫn gia đình thuần túy và hành vi vi phạm pháp luật giúp Tòa án đưa ra phán quyết chính xác. Đề tài hỗ trợ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đánh giá đúng mức độ nguy hiểm của hành vi bạo lực tinh thần, bạo lực kinh tế. Đây là cơ sở để áp dụng đúng đắn các biện pháp xử phạt và bồi thường thiệt hại dân sự. Ứng dụng này góp phần bảo vệ quyền lợi tối đa cho phụ nữ và trẻ em khi giải quyết các vụ án ly hôn.

4.2. Khuyến nghị phát triển đề tài nghiên cứu pháp lý chuyên sâu

Đề tài mở ra nhiều hướng nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật bảo vệ quyền con người. Các công trình học thuật tiếp theo có thể tập trung đánh giá hiệu quả thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 trong môi trường số. Cần nghiên cứu mở rộng hành vi bạo lực mạng và quấy rối trực tuyến đối với phụ nữ trong quan hệ gia đình. Việc so sánh kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia phát triển sẽ mang lại bài học quý giá cho Việt Nam. Sinh viên và các nhà khoa học pháp lý có thể phát triển đề tài thành các luận văn thạc sĩ hoặc đề án chính sách có giá trị ứng dụng cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học bạo lực gia đình đối với phụ nữ thực trạng và giải pháp hạn chế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE BAO LUC GIA ĐÌNH ĐÓI VỚI PHỤ NỮ 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm bạo lực gia đình Theo Từ điển Tiếng Việt, “bạo luc” là “sức mạnh dùng dé cưỡng bức, tran áp hoặc lật dé”! Với cách định nghĩa này, bạo lực có thể mang nghĩa tiêu cực hoặc tích cực, phụ thuộc vào mục đích bạo lực được sử dụng trong từng trường hợp cụ thé. Ví dụ bạo lực mang nghĩa tiêu cực khi đó là bạo lực trẻ em; bạo lực giới;.

và bạo lực mang ý nghĩa tích cực như bạo lực cách mạng:. Theo Luật mẫu về BLGĐ của Uỷ ban nhân quyền của Liên hợp quốc năm 1996: “Tat cả các hành vi bạo lực trên cơ sở giới về thé chất, tâm lý và tình duc do một thành viên trong gia đình thực hiện đối với phụ nữ trong gia đình, bao gồm từ hành vi hành hung đơn giản đến bạo hành nghiêm trọng về thé chất, bắt cóc, đe dọa, khủng bó, cưỡng ép, theo dõi, lăng ma bằng lời nói, xâm nhập cưỡng bức hoặc trái pháp luật, phóng hóa, hủy hoại tài sản, bạo lực tình dục, hiếp đâm trong hôn nhân, bạo lực liên quan đến của hồi môn hoặc sinh lễ, cắt bỏ bộ phận sinh đục nữ, bạo lực liên quan đến bóc lột thông qua mại dâm, bạo lực đối với người lao động trong gia đình và các hành vi cô ý thực hiện những hành vi này, đều được coi là "bạo lực gia đình ”? Như vậy, theo quan niệm của Ủy ban nhân quyền của Liên hợp quốc, BLGĐ được hiểu theo nghĩa khá hẹp, hành v1 bạo lực chỉ xảy ra với nữ giới. Theo tinh thần đó, nhiều quốc gia đã cụ thể hóa quy định pháp luật về BLGD. Tại Điều 1, Luật xóa bỏ bạo hành trong gia đình của Indonesia số 23 năm 2004 ! Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội, tr 57.

? Model Legislation on Domestic Violence, 1996: “All acts of gender-based physical, psychological and sexual abuse by a family member against women in the family, ranging from simple assaults to aggravated physical battery, kidnapping, threats, intimidation, coercion, stalking, humiliating verbal abuse, forcible or unlawful entry, arson, destruction of property, sexual violence, marital rape, dowry or bride-price related violence, female genital mutilation, violence related to exploitation through prostitution, violence against household workers and attempts to commit such acts shall be termed "domestic violence". 7 quy định: “Bao hành gia đình là bat kỳ hành động nào chống lại bat kỳ ai, đặc biệt là phụ nữ, dan đến sự dau đớn về mặt thé xác, tình duc, tâm ly và/hoặc sự thờ o đối với gia đình, bao gồm cả sự de dọa sẽ thực hiện hành động, áp đặt hoặc tước đoạt tự do theo cách thức vi phạm Luật này trong phạm vi gia đình. `3 Tại Việt Nam, thuật ngữ BLGĐ được quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật PCBLGĐ năm 2022: “Bao lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây ton hại hoặc có khả năng gây ton hại về thé chất, tỉnh than, tình dục, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”. So với Luật PCBLGĐ năm 2007, Luật PCBLGĐ đã bé sung thêm hình thức “bao luc tinh đục ” là một trong các hình thức của BLGĐ bởi bao lực tinh đục hiện nay đang diễn ra khá phô biến.

Sự thay đổi này giúp xác định rõ trách nhiệm pháp ly đối với hành vi bạo lực tình đục trong gia đình, tao co sở dé áp dung các biện pháp xử lý và hỗ trợ nạn nhân hiệu quả hơn. Có thé thay rang, bạo lực gia xay ra và gắn liền với “thanh viên gia đình ”. Trên cơ sở Điều 3 Luật PCBLGD năm 2022: “Thành viên gia đình bao gém vợ, chông; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha đượng, me ké, cha me vo, cha me chong; con dé, con nudi, con riéng cua vợ hoặc chong, con dâu, con rể, anh, chi, em cùng cha me, anh, chi, em cùng cha khác me, anh, chị, em cùng me khác cha, anh rễ, em rễ, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng me khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại, cháu nội, chau ngoại; cô, di, chủ, cậu, bác ruột và chau ruột. ” Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng đã mở rộng thêm phạm vi chủ thé của BLGĐ là những người đã ly hôn; người chung sống như vợ chồng: người la cha, me, con riêng, anh, chi, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chong; người đã từng có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi với nhau.

Sự 3 Pasal 1, Undang-Undang Republik Indonesia Nomor 23 Tahun 2004 tentang Penghapusan Kekerasan dalam Rumah Tangg: “Kekerasan dalam Rumah Tangga adalah setiap perbuatan terhadap seseorang terutama per- empuan, yang berakibat timbulnya kesengsaraan atau penderitaan secara fisik, seksual, psikologis, dan/atau penelantaran rumah tangga termasuk ancaman untuk melakukan perbuatan, pemaksaan, atau perampasan kemerdekaan secara melawan hukum dalam lingkup rumah tangga.” 8 khác biệt giữa BLGĐ với các dạng bạo lực xã hội khác là ở chỗ BLGĐ diễn ra giữa những người thân, những thành viên sống trong cùng một gia đình; có mối quan hệ gia đình, bao gồm quan hệ vợ - chồng: quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi đưỡng:. Việc mở rộng phạm vi chủ thé của BLGĐ là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ những nhóm đối tượng này vẫn tồn tại những ràng buộc nhất định về tâm lý, tình cảm và có nguy cơ trở thành nạn nhân của BLGĐ. Trên cơ sở đó, quy định này đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của họ, đảm bảo sự can thiệp kip thời của pháp luật khi hành vi BLGD xảy ra. Từ những phân tích ở trên, có thể rút ra khái niệm về BLGĐ như sau: Bao lực gia đình đình là một dạng thức bạo lực trong xã hội, là hành vi cố MÃ vi phạm chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật của một hay nhiều thành viên trong gia đình, được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, gây tôn hại hoặc nguy cơ gây ton hại về thé chất, tinh than, tình dục, kinh tế,.

cho các thành viên khác trong gia đình. Khái niệm bạo lực gia đình doi với phụ nữ và đặc điểm của hành vi bạo lực gia đình doi với phụ nữ 11. Khai niệm bạo lực gia đình đối với phụ nữ Theo Từ điển Tiếng Việt: "Phụ nữ là người lớn thuộc nữ giới", trong đó nữ giới là một khái niệm chỉ giới tính của một người hay một nhóm người trong xã hội, những người mang đặc điểm giới tính nữ là những người có khả năng mang thai và sinh nở khi co thé họ trưởng thành và chức năng giới tính hoạt động bình thường. Người phụ nữ trong gia đình thường bao gồm các vai trò như người mẹ, người vợ, con gái, chị/em gái, và bà.

Họ không chỉ là người giữ gìn và phát triển gia đình mà còn là nền tảng vững chắc trong việc duy trì hạnh phúc và ôn định. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển gia đình. Với vai trò làm vợ, người phụ nữ luôn chia sẻ, hỗ trợ, là bạn đồng hành, là hậu phương vững 4 Nguyễn Thị Hồng Nhung (2020), Công tác xã hội nhóm với phụ nữ bị bạo lực gia đình trên địa bàn thị trần Tân Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu, Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, Trường Đại học Lao động - Xã hội, tr. 9 chắc, cùng chồng xây dựng cuộc sống.

Với thiên chức làm mẹ, người phụ nữ sinh con va gift vai trò chủ đạo trong việc nuôi dưỡng, chăm sóc va giáo dục con cái. Trong thời đại mới, bên cạnh vai trò làm vợ, làm mẹ trong gia đình, người phụ nữ còn tiếp tục khẳng định và phát huy vai trò của mình đối với sự phát triển của xã hội, tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội và cũng góp phần tạo ra nguồn thu nhập dé nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, đù vai trò xã hội ngày càng mở rộng, trách nhiệm chính của họ vẫn tập trung vào việc chăm sóc gia đình, thé hiện sự hy sinh và đóng góp không thé thay thé trong sự phát triển bền vững của gia đình và xã hội. Bat kỳ thành viên nào cũng có thé trở thành nạn nhân của BLGĐ.

Hiện nay bên cạnh trẻ em, dù có vai tro quan trọng nhưng phụ nữ cũng là nạn nhân thường xuyên của BLGĐ. BLGĐ đối với phụ nữ không còn là khái niệm lạ trong các văn kiện quốc tế. Theo Tuyên bó về bỏ bạo lực đối với phụ nữ do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua năm 1993 định nghĩa: “Bao luc đổi với phụ nữ có nghĩa là mọi hành vi bao lực trên cơ sở giới tính dan đến hoặc có thé dẫn đến sự xâm hại về thể chất, tình dục hoặc tâm ly hoặc sự dau khổ cho phụ nữ kế cả việc de doa có những hành vì như vậy, việc cưỡng đoạt hoặc tước đoạt vé cớ tu do của phụ nữ, cho dù diễn ra trong đời sống công cộng hoặc riêng tu.”> Phụ nữ luôn là đối tượng dé bị bạo hành bởi van đề về thé lực, tâm lý, quan niệm về vị thế trong gia đình. Họ có kha năng phải chịu những trận don roi, sỉ nhục, han chế kinh tế bởi những thành viên trong gia đình, đặc biệt là nam giới.

Từ những phân tích trên kết hợp với khái niệm “hao le gia đình” có thé định nghĩa: 8LGÐ đối với phụ nữ là hành vi cỗ y của một hoặc nhiêu thành viên trong gia đình, được thực hiện đưới nhiều hình thức khác nhau, gây ton hại hoặc nguy cơ gây ton hại về thé chất, tinh than, tình dục, kinh tế,. đối với người phụ nữ trong gia đình. > Article 1, Declaration on the Elimination of Violence against Women (1993): “For the purposes of this Dec- laration, the term "violence against women" means any act of gender-based violence that results in, or is likely to result in, physical, sexual or psychological harm or suffering to women, including threats of such acts, coercion or arbitrary deprivation of liberty, whether occurring in public or in private life. Đặc điểm của hành vi bạo lực gia đình đổi với phụ nữ Hành vi BLGĐ đối với phụ nữ có thể có các đặc điểm của hành BLGĐ nói chung nhưng cũng mang các đặc điểm đặc thù như sau: Một, người bị bạo lực là người phụ nữ - nhóm người theo luật pháp quốc tế và Việt Nam ghi nhận là đối tượng “yếu thế” do những yếu tố xã hội quy định khiến họ bị đánh giá thấp về địa vị trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện và năng lực có sẵn như nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ