Khóa luận tốt nghiệp Luật: tốt nghiệp luật học bình đẳng giới giữa vợ và

Khóa luận nghiên cứu bình đẳng giới trong hôn nhân về tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, phân tích lý luận và thực tiễn pháp luật Việt Nam.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

77
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của bình đẳng giới giữa vợ và chồng

Bình đẳng giới là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật hiện đại, đặc biệt trong lĩnh vực luật hôn nhân và gia đình. Bình đẳng giới giữa vợ và chồng không chỉ là quyền con người mà còn là yếu tố thiết yếu để phát triển bền vững xã hội. Khóa luận tốt nghiệp này tập trung vào tiếp cận và kiểm soát nguồn lực - hai khía cạnh quan trọng nhất trong mối quan hệ vợ chồng. Việc đảm bảo bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận tài sản, tài chính và các nguồn lực khác là điều kiện để xây dựng gia đình ổn định, hạnh phúc và phát triển bền vững.

1.1. Định nghĩa bình đẳng giới trong pháp luật Việt Nam

Theo pháp luật Việt Nam, bình đẳng giới được quy định là quyền được xem xét, đối xử công bằng không phân biệt giới tính. Trong luật Hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới giữa vợ và chồng bao gồm quyền bình đẳng trong quyết định các vấn đề gia đình, quyền sử dụng và quản lý tài sản chung, cũng như quyền bình đẳng trong lao động và đào tạo.

1.2. Tiếp cận và kiểm soát nguồn lực

Tiếp cận nguồn lực bao gồm khả năng sử dụng tài sản, tài chính và cơ hội kinh tế. Kiểm soát nguồn lực là quyền quyết định cách sử dụng và phân phối các nguồn lực này. Cả hai khía cạnh này đều quan trọng để đảm bảo bình đẳng giới thực chất giữa vợ và chồng trong gia đình.

II. Quy định pháp luật về bình đẳng giới giữa vợ và chồng

Pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đã có những quy định cụ thể về bình đẳng giới giữa vợ và chồng. Các quy định này phản ánh cam kết của Việt Nam với Công ước quốc tế về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt với phụ nữ (CEDAW). Luật quy định rõ ràng rằng vợ và chồng có quyền bình đẳng trong mọi lĩnh vực của gia đình, từ quyên quyết định về việc sinh con đến quyền sở hữu và sử dụng tài sản chung. Những quy định này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền lợi của cả vợ và chồng.

2.1. Quy định về tiếp cận tài sản và tài chính

Luật Hôn nhân và gia đình quy định vợ và chồng có quyền bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng tài sản chung. Cả vợ và chồng đều được phép quản lý, sử dụng và xử lý tài sản chung. Tài sản do một trong hai người mua trong thời gian hôn nhân nằm trong tài sản chung, trừ trường hợp được pháp luật quy định khác.

2.2. Quy định về kiểm soát nguồn lực gia đình

Vợ và chồng có quyền bình đẳng trong việc kiểm soát và quyết định sử dụng nguồn lực gia đình. Không một người nào có thể đơn phương quyết định các vấn đề quan trọng liên quan đến tài sản chung mà không có sự đồng ý của bên kia, trừ những trường hợp pháp luật cho phép.

III. Thực tiễn thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng

Mặc dù pháp luật đã có những quy định tốt, nhưng thực tiễn thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc. Một số gia đình vẫn còn tập quán, quan điểm truyền thống ảnh hưởng đến việc thực hiện bình đẳng giới thực chất. Ngoài ra, tình trạng thiếu hiểu biết về quyền và trách nhiệm pháp lý cũng là nguyên nhân dẫn đến những vi phạm và tranh chấp. Khóa luận này phân tích chi tiết những kết quả đạt được, những tồn tại và vướng mắc, cùng với các nguyên nhân gây ra.

3.1. Kết quả đạt được từ thực hiện bình đẳng giới

Qua nhiều năm thực hiện, có những tiến bộ đáng khích lệ trong việc bảo vệ bình đẳng giới giữa vợ và chồng. Ngày càng nhiều phụ nữ được tiếp cận tài sản và tài chính gia đình. Các tòa án đã xử lý thành công nhiều vụ tranh chấp liên quan đến tài sản chung, bảo vệ quyền lợi của cả vợ và chồng.

3.2. Những tồn tại và vướng mắc

Tuy nhiên, vẫn tồn tại những tồn tại và vướng mắc trong thực tiễn. Một số gia đình vẫn áp dụng tập quán nam quyền, phân biệt giới tính trong quản lý tài sản. Thiếu cơ chế giám sát và xử phạt hiệu quả đối với những vi phạm bình đẳng giới. Ngoài ra, nhận thức pháp lý của một bộ phận người dân còn hạn chế.

IV. Kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới

Để nâng cao hiệu quả thực hiện bình đẳng giới giữa vợ và chồng trong tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, cần có những giải pháp toàn diện từ phía Nhà nước, xã hội và cộng đồng. Kiến nghị bao gồm hoàn thiện pháp luật, cải thiện cơ chế tổ chức thực hiện, nâng cao nhận thức pháp lý cho người dân, đặc biệt là phụ nữ ở vùng nông thôn. Các biện pháp này cần được thực hiện một cách đồng bộ, liên tục và có sự tham gia của các bên liên quan.

4.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về bình đẳng giới giữa vợ và chồng để làm rõ hơn các trường hợp cụ thể. Tạo lập cơ chế bảo vệ bình đẳng giới mạnh mẽ hơn, đặc biệt trong lĩnh vực quyền sở hữu tài sản và quản lý tài chính gia đình. Rà soát và loại bỏ những quy định có tính chất phân biệt giới tính.

4.2. Kiến nghị nâng cao nhận thức và tổ chức thực hiện

Cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp lý về bình đẳng giới cho toàn xã hội. Hỗ trợ người dân, đặc biệt phụ nữ nông thôn, tiếp cận thông tin pháp lý và hỗ trợ pháp lý miễn phí. Cải thiện cơ chế giám sát, xử lý vi phạm bình đẳng giới hiệu quả hơn.

12/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VÀ PHÁP LUẬT VE BÌNH ĐĂNG GIỚI GIỮA VO VÀ CHONG TRONG TIẾP CAN VÀ KIEM SOÁT NGUÒN LUC 1. Ly luận cơ ban về bình dang giới giữa vợ va chong trong tiếp cận va kiểm soát nguồn lực 1. Khái niệm bình đẳng giới Trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người, từ chế độ chiếm hữu nô lệ cho đến nay, luôn xuất hiện sự bất bình đẳng giữa cá nhân, nhóm xã hội và giai cấp. Giữa muôn ngàn hiện tượng bat bình đẳng đã nỗi lên ba hình thức bất bình đẳng chủ yêu, căn bản nhất giữa “chủng tộc, giai cấp và giới”.

Nhưng thuật ngữ giới nên được hiểu như thé nào? Ở Việt Nam, khái niệm giới bắt đầu được phô biến và ứng dụng từ đầu những năm 80 của thé kỷ này!. Mặc du Luật Bình dang giới 2006 đã đưa ra khái niệm cụ thé về thuật ngữ “giới” nhưng do sự thay đổi và phát triển liên tục của xã hội, những quan điểm, suy nghĩ, cách giải thích về thuật ngữ này lại có sự khác biệt nhất định qua từng thời kì khiến cho thuật ngữ “giới” chưa được hiểu một cách thống nhất. Thuật ngữ “giới” trong tiếng anh là “gender” bắt đầu được sử đụng trong các tài liệu khoa học xã hội của một số nước công nghiệp tiên tiến cách đây chưa day 40 năm. Năm 1972, khái niệm “giới” (Gender) mới được Ann Oakley lần đầu đưa vào xã hội học dé phân biệt với khái niệm “giới tính” (Sex).

Trong cuốn sách “Sex, Gender and Society”, Ann Oakley cho rằng “giới tính” thé hiện sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ còn “giới” được cho là van đề liên quan đến văn hóa, nó đề cập đến sự phân loại xã hội thành “nam tính” và “nữ tính”. Trong bai viết “A history of gender” của Joanne Meyerowitz có dé cập dén viéc “gidi la mot yếu tổ cấu thành các quan hệ xã hội dựa trên sự khác biệt 1332 về nhận thức giữa giới tính (nam và nữ, ! ThS. Trần Hồng Vân, Tìm hiểu xã hội học về giới, NXB Phụ nữ, TP. ? Ann Oakley (1972), “Sex, gender and society”, Maurice Temple Smith Ltd, London, p21-22.org/stable/30223445, Joanne Meyerowitz, A History of “Gender”, P1346.

8 Theo từ điển Tiếng Việt, “giới” được hiểu là: “Lớp người trong xã hội phán theo một đặc điểm chung nào đó về nghề nghiệp, địa vị xã hội”. Theo định nghĩa này, việc một hoặc nhiều cá nhân trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, nếu như có những đặc điểm giống nhau hoặc ngang nhau về tài sản, thu nhập, địa vi, trình độ học van,. thì được coi là cùng một giới. Theo quan điểm xã hội học: “Khái niệm giới không chỉ dé cập đến nam và nữ mà cả mối quan hệ giữa nam và nữ.

Trong mối quan hệ ấy có sự phân biệt về vai trò, trách nhiệm, hành vi hoặc sự mong đợi mà xã hội đã quy định cho moi gidi. Nhitng quy định, mong doi xã hội này phù hop với đặc điểm văn hóa, chỉnh trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo; vì thé nó luôn bién đổi theo các giai đoạn lịch sử và có khác biệt giữa các cộng dong, xã hộ”. Như vậy, khi xem xét đến khái niệm giới, xã hội vẫn xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của thuật ngữ này. Sự khác biệt đó xuất phát từ hướng tiếp cận giới.

Giới có thể được nhìn nhận từ góc độ co bản là nam và nữ giống nhau về mặt nhân sinh nên cũng có những quyền, nghĩa vụ giống nhau, ngang nhau dẫn đến việc làm luật và áp dụng luật như nhau đối với cả hai giới. Hoặc cũng có thể nhìn nhận giới đưới góc độ giai cấp, tầng lớp, vị trí của một nhóm người có cùng chung đặc điểm về nghề nghiệp, địa vi,. Theo đó, khái niệm về giới có phạm vi rất rộng, liên quan đến mọi mặt của đời sống trong bối cảnh xã hội cụ thể. Đây là một phạm trù phản ánh quan điểm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ, được hình thành và định hình bởi xã hội.

Những đặc điểm này không chỉ ảnh hưởng đến cách thức xã hội nhìn nhận về trẻ em gái và trai, phụ nữ và nam giới, mà còn quy định các trách nhiệm, hành vi và kỳ vọng mà xã hội gan cho từng giới tính. Trên cơ sở tiếp cận van đề giới từ nhiều góc độ, có thé thấy rang giới tính chỉ sự khác biệt vê mặt sinh học giữa nam và nữ, được xác định bởi yêu tô gen thì giới được 4 Hoàng Phê (chú biên), Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB Da Nẵng, 2006. ; 3 Xem Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hoang Bá Thịnh, Giáo trình Xã hội học về giới, NXB. Đại học Quéc gia Hà Nội, Hà Nội, 2008, tr41-42.

hình thành thông qua quá trình giáo dục, học hỏi. Trong khi các đặc điểm của giới tính mang tính bất biến — gần như rất ít thay đôi — thì đặc điểm về giới lại đa dạng tùy thuộc vào điều kiện địa lý, chính trị, kinh tế, xã hội,. Như vậy, giới là “khái niệm chỉ giữa khác biệt giữa nam và nữ trong các mồi quan hệ xã hội, qua đó thể hiện vị trí, vai trò của họ trong xã hội.” Từ khái niệm giới, có thể thấy rằng sự khác biệt về vai trò, vị trí của nam và nữ trong xã hội không chỉ xuất phát từ yếu t6 sinh học mà còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tổ xã hội. Chính vi vậy, khái niệm bình dang giới ra đời nhằm dam bảo rang nam va nữ có quyền, cơ hội và nghĩa vụ ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống, hướng tới một xã hội công bằng và phát triển bền vững.

Dé hiểu day đủ khái niệm bình dang giới, trước tiên cần làm rõ ban chất của bình đăng cũng như sự khác biệt giữa bình đẳng nói chung và bình đẳng gidi nói riêng. Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Bình đẳng có nghĩa là người này ngang bang với người kia về địa vị và quyén lợi". Bình đẳng theo định nghĩa này được hiểu là sự ngang bằng giữa nam giới và nữ giới mà không có sự phân biệt đối xử, nam giới như thế nào thì phụ nữ cũng như vậy. Tuy nhiên, nếu bình đăng được nhìn nhận đưới góc độ này thì lại mang tính chủ quan, cào bằng thiếu đi tính hợp ly cũng như phù hợp với bản chat của con người.

Khi mà xã hội là tổng thể những mối quan hệ của các cá nhân, giữa con người với con người, và bản chat con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội nhưng mỗi cá nhân lại có những đặc điểm riêng về mặt sinh học, về vị trí, vai trò, địa vị xã hội”,. dẫn đến việc bình dang giữa nhưng người không bình đắng là sự bat bình đẳng. Nhưng nếu nhìn nhận đưới góc độ pháp lý, “bình đẳng” là một trong những quyền cơ bản của công dân, được ghi nhận tại Hiến pháp 2013. Dù mỗi người có hoàn cảnh, xuât thân, dia vi, giới tính,.

khác nhau nhưng “moi người Š Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học, NXB. Hồ Chi Minh, 2002, tri 61.Mac và Angghen Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quôc gia, Hà Nội, 1995, tr13. 10 đều bình dang trước pháp luậể". Đây là quyền được pháp luật ghi nhận, dam bảo thực hiện được mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội tôn trọng và tự nguyện thi hành.

Như vậy, “bình đẳng” có thê được hiểu là việc “mọi người déu có quyên và nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia vào các quan hệ xã hội”. Nhưng hiện nay, khi nhắc đến sự “bình dang”, vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau về cách tiếp cận. Nếu chỉ hiểu bình đắng giới đơn thuần là sự bình đắng tuyệt đối giữa nam và nữ trên mọi phương diện, không có sự phân biệt hay hạn chế nào, thì sẽ bỏ qua yếu tố giới — một khía cạnh quan trọng trong nhận thức về bình đẳng. Cách tiếp cận này có thê dẫn đến việc đối xử như nhau mà không tính đến những đặc điểm sinh học vốn có của nam và nữ, trong khi sự khác biệt này là yếu tố khách quan, không thể thay đổi về mặt sinh học.

Nếu chỉ áp dụng một cách máy móc nguyên tắc bình dang mà không xét đến những đặc thù riêng giữa nam và nữ, thi đó chỉ là một sự bình đẳng hình thức, chưa phản ánh đúng bản chất và mối tương quan thực tế về giới. Cần phải nhận thức được nam và nữ có những đặc tính sinh học, đặc trưng khác nhau, nếu không chú ý đến cái riêng trong cái chung thì sẽ không có bình đăng thực sự. Nhưng khi chúng ta thừa nhận và chấp nhận rằng phụ nữ có những khác biệt nhất định so với nam giới, thì không thể xem bình đắng giới đơn thuần là việc đối xử giống hệt nhau giữa hai giới trên mọi phương điện. Quan niệm cho rằng bình đăng giới đồng nghĩa với việc nam và nữ phải có khả năng làm tất cả mọi thứ như nhau không chỉ thiếu thực tế mà còn có thể dẫn đến nhận thức sai lệch về nguyên tắc bình đẳng thực chất.

Trên thực tế, việc áp dụng một cách cứng nhắc nguyên tắc đối xử như nhau đối với các nhóm xã hội vốn có sự khác biệt sẽ không thể mang lại sự công bằng thực sự. Vì vậy, bình dang giới đúng nghĩa không chi là đảm bảo quyền lợi ngang nhau cho nam và nữ ma còn phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng quyền con người, đồng thời kết hợp hài hòa 8 Khoản | điều 16 Hiến pháp 2013. 11 giữa những đặc điểm sinh học và yếu tố xã hội. Chỉ khi nhận thức được sự khác biệt tự nhiên g1ữa hai giới và có những chính sách, quy định phù hợp, thì mới có thé đạt được một xã hội bình đẳng giới thực sự, toàn diện và công bằng.

Như vậy, bình dang giới được hiểu là việc nam và nữ đều có vị thé, cơ hội ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, cả hai giới déu được tạo diéu kiện dé phát triển bản thân, tham gia vào các hoạt động xã hội và hưởng thụ thành quả của sự phát triển mà không bị phân biệt đối xử trên cơ sở giới tính. Binh đẳng giới không chỉ đơn thuần 1a sự chia đều quyền lợi, mà còn là su tôn trọng và tạo cơ hội công bằng dé cá nam và nữ có thé phát triển tối đa khả năng của mình, cùng đóng góp cho xã hội và đáp ứng các nhu cầu cá nhân một cách công bằng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ