Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý và xã hội học, hôn nhân được xác định là một thiết chế xã hội cơ bản, đóng vai trò nền tảng xây dựng gia đình và bảo đảm trật tự xã hội. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, quan hệ vợ chồng chỉ được Nhà nước bảo hộ khi thực hiện đầy đủ thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, trước sự phát triển của kinh tế - xã hội và sự biến đổi trong quan niệm hôn nhân, hiện tượng nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ngày càng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất. Hiện tượng này không chỉ diễn ra giữa nam và nữ mà còn mở rộng trong cộng đồng người đồng giới, chuyển giới.
Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, dù hệ thống văn bản pháp lý đã có những quy định trực tiếp điều chỉnh nhưng vẫn bộc lộ khoảng trống, chưa đáp ứng kịp thời các biến chuyển thực tế. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, làm phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp về quan hệ nhân thân, nuôi dưỡng con chung, phân chia tài sản và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với bên thứ ba.
Khóa luận xác định mục đích nghiên cứu là làm rõ các quy định pháp luật hiện hành, phân tích thực trạng áp dụng, nhận diện các bất cập và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về hôn nhân và gia đình. Để đạt được mục đích đó, tác giả đặt ra 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích các vấn đề lý luận và làm rõ hệ thống quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn.
- Phân tích các hệ quả pháp lý phát sinh từ hành vi chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
- Xem xét, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành trong việc xử lý các quan hệ này.
- Đóng góp ý kiến đánh giá và đề xuất các kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trên thực tế.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh quan hệ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn, trọng tâm là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại Việt Nam (có so sánh đối chiếu với một số hệ thống pháp luật trên thế giới) và phạm vi thời gian là từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành cho đến thời điểm thực hiện đề tài (năm 2025).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin với phép biện chứng duy vật và lịch sử, kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về hôn nhân và gia đình. Tác giả trích dẫn quan điểm của Ph.Ăngghen trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" về quyền kết hôn vì tình yêu, cùng luận điểm của C.Mác trong tác phẩm "Bản dự luật về ly hôn" nhấn mạnh tính quy phạm xã hội và bản chất pháp lý của thiết chế hôn nhân.
Về mặt thuật ngữ và khái niệm, khóa luận kết hợp định nghĩa ngữ nghĩa từ Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên) với định nghĩa pháp lý tại Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: "Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng". Khung pháp lý điều chỉnh được phân tích qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam qua các thời kỳ:
- Giai đoạn phong kiến: Quốc triều Hình luật (Luật Hồng Đức) và Hoàng Việt Luật Lệ (Luật Gia Long).
- Giai đoạn Pháp thuộc: Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936, Bộ Dân luật Giản yếu Nam Kỳ 1883, và Luật Hôn nhân và Gia đình của Việt Nam Cộng hòa năm 1959.
- Giai đoạn từ 1945 đến nay: Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, Thông tư số 112/NCPL ngày 19/8/1972 của Tòa án nhân dân tối cao, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988, Công văn số 16/1999/KHXX ngày 01/02/1999, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, Nghị định số 77/2001/NĐ-CP, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Nghị định số 82/2020/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, cùng các quy định kỷ luật Đảng (Quy định số 37-QĐ/TW năm 2021, Quy định số 69-QĐ/TW năm 2022).
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và bình luận: Mổ xẻ các nội dung lý luận, giải mã cấu trúc điều luật và nội dung quy phạm pháp luật hiện hành.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng áp dụng pháp luật, phân loại các dạng thức sống chung và đánh giá bất cập.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia phương Tây (Vương quốc Anh, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Cộng hòa Pháp) và khu vực Châu Á (Nepal, Indonesia, Trung Quốc) để rút ra bài học kinh nghiệm.
Nguồn dữ liệu của khóa luận dựa trên văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao, các án lệ và quy chuẩn pháp lý quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về việc nam, nữ chung sống với nhau mà không đăng ký kết hôn
Chương này tập trung làm rõ khái niệm, các đặc điểm chung của quan hệ chung sống như vợ chồng, tiến trình lịch sử lập pháp và kinh nghiệm quốc tế. Tác giả khái quát hóa 3 đặc điểm bản chất: (1) Tính đa dạng về chủ thể (nam - nữ, cộng đồng LGBT, không giới hạn độ tuổi hay nghề nghiệp); (2) Sự vắng mặt của sự ràng buộc pháp lý chính thức về quan hệ hôn nhân; (3) Tính đa dạng về mục đích chung sống (tình cảm gắn bó, chia sẻ kinh tế, hoặc các mục đích cá nhân khác).
Khóa luận phân tích sự phát triển lập pháp từ thời phong kiến (thừa nhận hôn nhân qua nghi lễ cưới hỏi, nạp sính lễ theo Điều 315 Luật Hồng Đức hay 4 lễ trong Luật Gia Long), thời kỳ Pháp thuộc (bắt đầu ghi nhận việc đăng ký với hương hộ để cấp chứng thư giá thú), đến giai đoạn sau 1945. Đáng chú ý, Thông tư số 112/NCPL năm 1972 lần đầu tiên đưa ra khái niệm "hôn nhân thực tế", sau đó được giới hạn mốc thời gian trước ngày 03/01/1987 tại Công văn số 16/1999/KHXX và Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10.
Nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế được tổng hợp theo các mô hình pháp lý:
| Quốc gia / Khu vực |
Thuật ngữ pháp lý / Chế định áp dụng |
Thái độ lập pháp và cơ chế điều chỉnh |
| Vương quốc Anh |
Common-law partners / Cohabitation |
Không công nhận tư cách vợ chồng hợp pháp; tranh chấp giải quyết theo Family Law Act 1996, TOLATA 1996 (tài sản) và Children Act 1989 (con cái). |
| Hoa Kỳ |
Cohabitation, Common law marriage, Domestic partnership |
Tùy thuộc bang: Texas, Colorado công nhận common law marriage; California áp dụng domestic partnership; New Hampshire công nhận hôn nhân theo luật chung chỉ nhằm mục đích hưởng thừa kế khi sống chung từ 3 năm và bạn đời qua đời. |
| Cộng hòa Pháp |
Pacte Civil de Solidarité (PACS - Điều 515-1 BLDS), Concubinage (Điều 515-8 BLDS) |
Công nhận hợp đồng hợp tác dân sự (PACS) và sống chung thực tế (concubinage) cho cả cặp đôi khác giới và cùng giới, có cơ chế giải thể linh hoạt. |
| Châu Á (Nepal, Indonesia, Trung Quốc) |
Quy định theo BLDS / BLHS các nước |
Chịu ảnh hưởng của truyền thống; Nepal không có quy định thừa nhận sống chung; Indonesia xử lý hình sự quan hệ tình dục ngoài hôn nhân tại Điều 411 BLHS 2023 (phạt tù tối đa 2 năm hoặc phạt tiền); Trung Quốc yêu cầu bắt buộc đăng ký kết hôn (Điều 1046 - 1049 BLDS 2020). |
Phần cuối chương, tác giả phân loại các trường hợp chung sống như vợ chồng tại Việt Nam thành hai nhóm:
- Trường hợp không vi phạm pháp luật: Nam nữ đủ điều kiện nhưng không đăng ký kết hôn; hai cá nhân đồng tính sống chung; một hoặc hai bên mất năng lực hành vi dân sự sống chung; nam nữ sống chung trước ngày 03/01/1987.
- Trường hợp vi phạm pháp luật: Tảo hôn (vi phạm Điều 8 và Điều 5 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014); vi phạm chế độ một vợ, một chồng; sống chung giữa những người cận huyết thống hoặc thuộc phạm vi cấm kết hôn.
Chương 2: Giải quyết các trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
Chương 2 đi sâu vào thẩm quyền, quyền yêu cầu giải quyết, các hệ quả pháp lý về nhân thân, con cái, tài sản và các chế tài xử lý theo ngành luật khác.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh từ việc chung sống như vợ chồng thuộc Tòa án nhân dân theo Khoản 2 Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Quyền yêu cầu được phân định theo đối tượng:
- Đối với trường hợp xác lập trước ngày 03/01/1987 (được công nhận là vợ chồng): Áp dụng quyền yêu cầu ly hôn theo Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Đối với trường hợp không được công nhận là vợ chồng: Các bên, người đại diện hợp pháp hoặc người giám hộ (nếu mất năng lực hành vi dân sự) có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng. Người đồng tính, chuyển giới có quyền khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền lợi dân sự theo Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hậu quả pháp lý của việc chung sống không đăng ký kết hôn được quy định cụ thể:
| Quan hệ pháp luật |
Căn cứ pháp lý |
Nội dung điều chỉnh và nguyên tắc giải quyết |
| Quan hệ nhân thân |
Điều 14, Điều 17 - 23 Luật HN&GĐ 2014 |
Không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng; không làm phát sinh quyền đại diện theo pháp luật giữa vợ chồng, không phát sinh quyền thừa kế theo luật và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa hai bên. Khi có yêu cầu, Tòa án tuyên bố không công nhận là vợ chồng. |
| Quan hệ cha mẹ - con |
Điều 15, Điều 69, 70, 81 Luật HN&GĐ 2014; Luật Nuôi con nuôi 2010 |
Con sinh ra được đối xử bình đẳng như trong hôn nhân hợp pháp. Quyền nuôi con giải quyết theo thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được, Tòa án quyết định dựa trên quyền lợi của con (con dưới 36 tháng tuổi giao mẹ trực tiếp nuôi, con từ đủ 7 tuổi phải xem xét nguyện vọng). Việc nhận con nuôi chỉ thực hiện với tư cách cá nhân độc thân theo Luật Nuôi con nuôi 2010. |
| Quan hệ tài sản, nghĩa vụ, hợp đồng |
Điều 16 Luật HN&GĐ 2014; Điều 209, 210, 216, 224 BLDS 2015 |
Ưu tiên thỏa thuận giữa các bên; nếu không thỏa thuận được thì giải quyết theo quy định của BLDS 2015 về sở hữu chung theo phần hoặc sở hữu chung hợp nhất. Khoản 2 Điều 16 bảo vệ quyền lợi phụ nữ và trẻ em, ghi nhận công việc nội trợ và duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập. Quan hệ với người thứ ba giải quyết theo giao dịch hợp đồng đã xác lập. |
Về chế tài xử lý các trường hợp vi phạm:
- Pháp luật Hành chính: Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP quy định mức phạt tiền từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng đối với các hành vi vi phạm quy định kết hôn tại Khoản 1, và phạt tiền từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng tại Khoản 2.
- Xử lý kỷ luật Đảng: Đảng viên vi phạm việc sống chung như vợ chồng với người khác bị xử lý theo Điều 18 Quy định số 37-QĐ/TW và Điều 51 Quy định số 69-QĐ/TW với các hình thức: khiển trách (hậu quả ít nghiêm trọng), cảnh cáo hoặc cách chức (tái phạm hoặc vi phạm lần đầu gây hậu quả nghiêm trọng), khai trừ (gây hậu quả rất nghiêm trọng).
- Pháp luật Hình sự: Truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật Hình sự năm 2015 về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù nếu tái phạm sau khi có quyết định hủy kết hôn hoặc buộc chấm dứt sống chung). Điều 184 Bộ luật Hình sự quy định Tội loạn luân với mức phạt từ 01 năm đến 05 năm tù; tác giả chỉ ra bất cập khi phạm vi chủ thể tội loạn luân (dòng máu trực hệ, anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ/cùng mẹ khác cha) hẹp hơn phạm vi cấm kết hôn trong phạm vi ba đời của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Chương 3: Thực tiễn giải quyết các trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn và giải pháp hoàn thiện pháp luật
Chương này đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại Tòa án nhân dân các cấp, chỉ ra sự phức tạp khi thu thập chứng cứ chứng minh tài sản chung theo phần, việc định giá công sức đóng góp của phụ nữ làm công việc nội trợ, và các vướng mắc trong thủ tục đăng ký khai sinh hoặc nhận cha, mẹ, con.
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn, tác giả xây dựng 2 nhóm giải pháp:
- Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Cụ thể hóa định nghĩa "chung sống như vợ chồng" tại Khoản 7 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; sửa đổi quy định cấm kết hôn đối với người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mất khả năng nhận thức thay vì chỉ căn cứ vào quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự của Tòa án; bổ sung khung pháp lý về nhận con nuôi đối với các cặp đôi sống chung thực tế; đồng bộ hóa phạm vi chủ thể giữa tội loạn luân tại Điều 184 Bộ luật Hình sự với quy định cấm kết hôn trong phạm vi ba đời.
- Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật hộ tịch, nâng cao năng lực xét xử của đội ngũ Thẩm phán đối với các vụ việc phân chia tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự, và rà soát điều chỉnh các mức xử phạt hành chính nhằm bảo đảm tính răn đe.
Kết quả và đóng góp
Kết quả nghiên cứu chính
- Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện quá trình tiến hóa của pháp luật Việt Nam về việc chung sống như vợ chồng qua các giai đoạn lịch sử (Luật Hồng Đức, Luật Gia Long, Dân luật ba kỳ thời Pháp thuộc, Sắc lệnh 97/SL, Luật 1959, Thông tư 112/NCPL, Luật 1986, Luật 2000, Luật 2014).
- Làm rõ cơ chế giải quyết tranh chấp tài sản của các cặp đôi sống chung không đăng ký kết hôn dựa trên sự kết hợp giữa nguyên tắc thỏa thuận, chế định sở hữu chung của Bộ luật Dân sự năm 2015 và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi lao động nội trợ theo Khoản 2 Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Chỉ ra sự không đồng bộ giữa quy định cấm kết hôn/chung sống giữa những người có họ trong phạm vi ba đời theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 với cấu thành Tội loạn luân tại Điều 184 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đề xuất và kiến nghị của tác giả
- Sửa đổi điều kiện kết hôn liên quan đến NLHVDS: Đề xuất quy định trực tiếp việc cấm kết hôn đối với người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không có khả năng nhận thức hành vi, thay vì chỉ giới hạn ở người đã có quyết định tuyên bố của Tòa án.
- Bổ sung chế định con nuôi: Đề xuất mở rộng hoặc có hướng dẫn cụ thể về quyền nhận con nuôi và trách nhiệm đối với con nuôi khi chấm dứt quan hệ sống chung không đăng ký kết hôn.
- Mở rộng quyền yêu cầu: Kiến nghị bổ sung quy định rõ ràng về các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái pháp luật (tương tự như Điều 10 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật).
- Hoàn thiện chế tài xử lý: Nâng mức xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định số 82/2020/NĐ-CP và mở rộng phạm vi xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm điều cấm về hôn nhân cận huyết.
Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn
Tác giả tự xác định đề tài đã khắc phục hạn chế của các công trình trước đây (vốn chỉ phân tích quy định cũ hoặc chưa nghiên cứu trực tiếp hành vi sống chung như vợ chồng dưới góc độ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014), cung cấp luận cứ khoa học cho hoạt động lập pháp và nguồn tài liệu tham khảo cho công tác xét xử, nghiên cứu, giảng dạy luật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hệ thống quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và một số văn bản liên quan. Dữ liệu thực tiễn và án lệ chủ yếu mang tính điển hình theo các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao. Phần so sánh pháp luật nước ngoài dừng lại ở các nét đặc thù cơ bản tại một số bang của Hoa Kỳ, Anh, Pháp và một số nước Châu Á mà chưa đi sâu vào toàn bộ án lệ quốc tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế bảo vệ quyền tài sản và con cái trong các mối quan hệ sống chung của người đồng giới, chuyển giới khi các văn bản chuyên ngành về chuyển đổi giới tính được ban hành; nghiên cứu sâu hơn về thủ tục giải quyết các hợp đồng thỏa thuận tài sản tiền hôn nhân hoặc thỏa thuận sống chung theo hướng pháp luật hiện đại.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Đặc biệt là sinh viên theo học học phần Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự cần tài liệu hệ thống hóa lý luận, lịch sử lập pháp và các trường hợp điển hình.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu pháp lý: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu so sánh pháp luật, phân tích cấu trúc điều luật và đánh giá tác động chính sách lập pháp.
- Cán bộ tư pháp, Thẩm phán, Luật sư: Tham khảo phương pháp định danh các trường hợp sống chung (hợp pháp và trái pháp luật), cơ sở viện dẫn điều luật khi giải quyết tranh chấp chia tài sản chung theo phần của các cặp đôi không đăng ký kết hôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Trường hợp nào nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng?
Căn cứ theo điểm a Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10, Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và Khoản 2 Điều 44 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, trường hợp nam và nữ xác lập quan hệ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987 mà chưa đăng ký kết hôn (thường gọi là "hôn nhân thực tế") và hiện nay vẫn đang chung sống thì vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng. Khi có yêu cầu ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định ly hôn thông thường.
2. Quan hệ tài sản của nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn được giải quyết như thế nào khi chia tay?
Theo Khoản 1 Điều 16 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng trước hết được giải quyết theo sự thỏa thuận của các bên. Nếu không có thỏa thuận, Tòa án sẽ áp dụng các quy định về sở hữu chung theo phần (Điều 209, 216, 224) hoặc sở hữu chung hợp nhất (Điều 210) của Bộ luật Dân sự năm 2015. Đồng thời, Khoản 2 Điều 16 quy định việc giải quyết phải bảo đảm quyền lợi hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác nhằm duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
3. Người đồng tính chung sống như vợ chồng có được công nhận hôn nhân không và họ có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp không?
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính (đã bãi bỏ quy định cấm kết hôn cùng giới so với Luật 2000 nhưng không công nhận giá trị pháp lý vợ chồng). Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp về tài sản hoặc nghĩa vụ dân sự khi chấm dứt sống chung, họ có quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết với tư cách đương sự theo Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
4. Tại sao hành vi chung sống cận huyết thống giữa những người có họ trong phạm vi ba đời lại không cấu thành Tội loạn luân theo Bộ luật Hình sự?
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cấm kết hôn và sống chung giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Tuy nhiên, Điều 184 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) chỉ quy định xử lý hình sự về Tội loạn luân đối với hành vi giao cấu giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Do phạm vi chủ thể của Điều 184 BLHS hẹp hơn phạm vi cấm của Luật HN&GĐ nên hành vi sống chung giữa những người có họ trong phạm vi ba đời dù vi phạm điều cấm hôn nhân nhưng không cấu thành tội danh loạn luân.
5. Pháp luật Cộng hòa Pháp điều chỉnh quan hệ sống chung không đăng ký kết hôn thông qua các hình thức pháp lý nào?
Bộ luật Dân sự Pháp ghi nhận hai hình thức chính: (1) Hợp đồng Hợp tác Dân sự - Pacte Civil de Solidarité (PACS) theo Điều 515-1, là hợp đồng được ký kết giữa hai cá nhân thành niên (khác giới hoặc cùng giới) nhằm tổ chức đời sống chung và có thể giải thể linh hoạt; (2) Quan hệ sống chung thực tế không đăng ký - Concubinage (hoặc Union libre) theo Điều 515-8, thể hiện qua cuộc sống chung mang tính ổn định, liên tục giữa hai người khác giới hoặc cùng giới mà không cần bất kỳ thủ tục đăng ký hành chính nào.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trịnh Ngọc Quỳnh Anh đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý xoay quanh việc nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Công trình phân tích sâu sắc các hệ quả pháp lý về nhân thân, con cái, tài sản, đối chiếu kinh nghiệm lập pháp quốc tế và chỉ ra các điểm nghẽn trong việc áp dụng pháp luật hành chính, dân sự, hình sự tại Việt Nam. Các kiến nghị hoàn thiện điều kiện kết hôn, chế định nhận con nuôi và đồng bộ hóa pháp luật hình sự mang tính thực tiễn cao, đóng góp tài liệu nghiên cứu có giá trị cho khoa học pháp lý về hôn nhân và gia đình.