Chương 1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỦY VIỆC KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT VÀ VẤN ĐỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Kết hôn Trong các văn bản quy phạm pháp luật trước đây như LHN&GĐ 1959, LHN&GĐ 1986 không đưa ra khái niệm về kết hôn. Khái niệm kết hôn được chính thức định nghĩa tại khoản 2 điều 8 LHN&GĐ 2000 như sau: "Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn".
Trên cơ sở đó, việc kết hôn phải đảm bảo các yếu tố sau: Thứ nhất, việc kết hôn phải thể hiện ý chí của nam nữ muốn kết hôn. Để đảm bảo nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình là xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, tiến bộ thì việc kết hôn của hai bên nam nữ phải thể hiện sự thống nhất về mặt ý chí. Hay nói cách khác, họ phải thật sự mong muốn được chung sống và xây dựng gia đình mà không có sự ép buộc, lừa dối. Thứ hai, việc kết hôn phải tuân theo những điều kiện và thủ tục theo quy định của pháp luật.
Việc kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình về điều kiện cũng như thủ tục tiến hành đăng ký kết hôn. Sở dĩ đây là một trong hai yếu tố không thể thiếu bởi vì thông qua việc đăng ký kết hôn, Nhà nước có thể quản lý một cách thống nhất quan hệ hôn nhân phát sinh giữa vợ và chồng. Mặt khác, đây cũng là cơ sở làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của nam nữ sau khi kết hôn. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác 6 định tư cách chủ thể trong các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này.
Đây là một trong những điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình 2000. Mặc dù chế định kết hôn đã được quy định trong các văn bản pháp luật trước đó điều chỉnh về lĩnh vực này song các văn bản này mới chỉ dừng lại ở việc quy định về các điều kiện kết hôn cụ thể hay hủy việc kết hôn trái pháp luật mà chưa có văn bản nào chính thức quy định kết hôn là như thế nào. Như vậy với việc định nghĩa một cách rõ ràng cụ thể khái niệm kết hôn tại điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình 2000 đã góp phần đảm bảo cho việc vận dụng pháp luật một cách thống nhất. Từ khái niệm trên có thể hiểu kết hôn là sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quan hệ vợ chồng giữa nam và nữ, từ đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa họ đối với nhau.
Kết hôn trái pháp luật Khi kết hôn các bên nam, nữ phải tuân thủ các điều kiện được pháp luật quy định, không vi phạm vào các các trường hợp cấm kết hôn thì hôn nhân mới được coi là hợp pháp. Bởi vì, chỉ có tuân thủ các điều kiện kết hôn thì mới đảm bảo cho hôn nhân tồn tại phù hợp với bản chất của nó. Và chỉ có những cuộc hôn nhân phù hợp với bản chất của nó mới có giá trị pháp lý, giữa các bên mới phát sinh và tồn tại quan hệ vợ chồng theo đúng nghĩa của nó. Nếu các bên nam nữ quyết định kết hôn mà vi phạm điều cấm thì hôn nhân sẽ trái pháp luật.
Sự tồn tại của quan hệ hôn nhân trái pháp luật không phù hợp với bản chất của quan hệ hôn nhân, đi trái với lợi ích mà pháp luật quan tâm bảo vệ. Vì vậy Nhà nước dùng biện pháp cưỡng chế đối với những vi phạm là buộc các bên phải chấm dứt việc chung sống trong quan hệ vợ chồng. Điều đó thể hiện thái độ nghiêm khắc của Nhà nước trước những hành vi vi phạm trong việc kết hôn và cũng khẳng định rằng trong việc kết hôn thì lợi ích của những người kết hôn phải phù hợp với lợi ích gia đình và xã hội. Xuất phát từ ý nghĩa đó, lần đầu tiên khái niệm kết hôn trái pháp luật đã được quy định cụ 7 thể tại Khoản 3 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 như sau: "Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn, nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định".
Như vậy, kết hôn trái pháp luật là việc kết hôn tuy đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng sau đó mới phát hiện một hoặc cả hai bên kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định. quyết định của toà án nhân dân có thẩm quyền huỷ bỏ (tiêu hôn) đối với hôn nhân trái pháp luật, tức là hôn nhân vi phạm các quy định về các điều kiện kết hôn, những trường hợp cấm kết hôn (được quy định ở điều 9, 10 của Luật hôn nhân và gia đình 2000 của Việt Nam). Hủy việc kết hôn trái pháp luật Nhằm đảm bảo thực thi các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình cũng như duy trì và phát triển chế độ hôn nhân tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc và bền vững, việc đặt ra các chế tài để áp dụng trong các trường hợp có vi phạm các quy định về quan hệ hôn nhân là rất cần thiết. Tuy nhiên, vấn đề này chưa từng được đề cập cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật từ trước đến nay.
Trong các văn bản pháp luật trước đây như Luật Hôn nhân và gia đình 1986 cũng chỉ mới quy định tại Điều 4 “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ…Cấm người đang có vợ có chồng kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác” và Điều 9 “Việc kết hôn vi phạm một trong các Điều 5, 6, 7 của Luật này là trái pháp luật. Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật”. Vấn đề này mặc dù đã được Luật Hôn nhân và gia đình 2000 quy định cụ thể và rõ ràng hơn tại các điều 15, Điều 16 và Điều 17. Tuy nhiên, về khái niệm 8 hủy việc kết hôn trái pháp luật vẫn chưa được đề cập.
Do đó, từ các quy định nói trên có thể hiểu hủy việc kết hôn trái pháp luật như sau: Hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp xử lí đối với những trường hợp kế t hôn vi phạm điề u kiê ̣n kế t hôn nhằ m bảo đảm chấ p hành nghiêm chỉnh Luật hôn nhân và gia đình, thể hiê ̣n thái độ phủ đi ̣nh của nhà nước đố i với các trường hợp kế t hôn trái pháp luật. Kết hôn trái pháp luật là một trong những vấn đề gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển chung của cộng đồng và tác động xấu đến toàn xã hội. Do đó, việc đặt ra chế tài hủy việc kết hôn trái pháp luật là hoàn toàn phù hợp và có ý nghĩa trong việc xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình nói chung. Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật Việt Nam về vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật Lịch sử Việt Nam đi từ hình thái xã hội đầu tiên là Công xã nguyên thủy, đến Chiếm hữu nô lệ, tiếp theo là gắn liền với chế độ Phong kiến kéo dài hàng nghìn năm và sau đó trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến rồi tiến lên xây dựng Chủ nghĩa Xã hội.
Ở mỗi hình thái nhà nước khác nhau, pháp luật Việt Nam cũng có sự điều chỉnh các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ Hôn nhân và gia đình khác nhau. Trải qua các thời kỳ phát triển, quan hệ Hôn nhân và gia đình ở Việt Nam chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ của các tư tưởng triết học, Nho giáo, Phật giáo hình thành nên các phong tục, tập quán, các quan hệ đạo đức ứng xử. Trong đó, việc kết hôn trái pháp luật và những chế tài của nó cũng bị chi phối bởi các yếu tố đó. Hủy việc kết hôn trái pháp luật được luật pháp Việt Nam ghi nhận khá sớm.
Tuy nhiên, trong thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, các quy định về vấn đề này còn rất hạn chế, mới chỉ dừng lại ở việc tạo cơ sở pháp lý đầu tiên là bước khởi đầu cơ bản cho việc hình thành nên các chế định độc lập về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong các văn bản quy 9 phạm pháp luật về Hôn nhân và gia đình sau này. Cùng với sự phát triển của các quan hệ xã hội, các quy định của pháp luật về hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng dần hoàn thiện hơn, đáp ứng giải quyết các vấn đề mới nảy sinh có tính chất đa dạng và phức tạp trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật trong pháp luật thời kỳ phong kiến (tính từ thời Lê – Thế kỷ XV) Do ảnh hưởng của hệ tư tưởng Nho giáo, hệ thống pháp luật thời kỳ phong kiến đặc biệt quan tâm tới các chế định về hôn nhân và gia đình nhằm củng cố vai trò vị trí của người gia trưởng. Nhiều vấn đề thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình như kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ và con, nhận nuôi con nuôi…đã được các văn bản quy phạm pháp luật dưới thời phong kiến như Bộ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức), Bộ luật Gia Long…điều chỉnh.
Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật này ít đề cập tới vấn đề hủy việc kết hôn trái pháp luật. Chương Hộ Hôn của Quốc triều Hình luật (Bộ luật Hồng Đức) quy định chế độ hôn nhân và gia đình thời phong kiến có 58 điều. Trong đó có nhiều điều khá tiến bộ. Người nào lấy cô, dì, chị em gái, kế nữ (tức con riêng của vợ), người thân thích đều bị xử theo tội gian dâm.
Không những thế, nếu là anh, em hoặc học trò mà lấy vợ của em, anh, thầy (dù họ đã chết) đều bị xử tội lưu; còn người đàn bà sẽ bị xử giảm một bậc; và đều phải ly dị.