Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống tố tụng dân sự Việt Nam, phiên tòa sơ thẩm là giai đoạn trung tâm và mang tính quyết định đến chất lượng giải quyết toàn bộ vụ án dân sự (VADS). Đây là nơi hội tụ đầy đủ các hoạt động tố tụng trực tiếp, công khai, dân chủ nhằm kiểm tra, đánh giá toàn diện chứng cứ, lắng nghe đương sự tranh luận trước khi Hội đồng xét xử (HĐXX) ban hành phán quyết. Để bảo đảm việc xét xử diễn ra đúng kế hoạch, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên và tránh kéo dài thời gian tố tụng, việc mở phiên tòa đúng thời gian, địa điểm đã ấn định là nguyên tắc cần được tuân thủ. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, không ít tình huống khách quan và chủ quan phát sinh buộc Tòa án phải tạm thời dừng việc xét xử thông qua hai thủ tục tố tụng: hoãn phiên tòa hoặc tạm ngừng phiên tòa.

Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) đã có nhiều điểm mới sửa đổi, bổ sung so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhằm phân định rõ ràng hơn giữa hoãn và tạm ngừng phiên tòa, xác định thẩm quyền, căn cứ và thời hạn áp dụng. Dẫu vậy, quá trình áp dụng vào thực tiễn vẫn bộc lộ nhiều khoảng trống pháp lý và xung đột trong cách hiểu giữa các Tòa án. Một số quy định chưa cụ thể dẫn đến tình trạng áp dụng tùy tiện, vi phạm thời hạn hoãn, tạm ngừng, hoặc lạm dụng để kéo dài vụ án, khiến nhiều bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm tuyên hủy hoặc sửa.

Trước yêu cầu của Chiến lược cải cách tư pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác xét xử của Tòa án, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) tập trung giải quyết các mục tiêu và phạm vi nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu:
    1. Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về hoãn và tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm VADS trong tố tụng dân sự (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, phân biệt với các chế định liên quan).
    2. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật trong BLTTDS năm 2015 và hiệu quả thi hành trong thực tiễn xét xử tại các Tòa án.
    3. Xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hoãn, tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm VADS.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định của Việt Nam về hoãn và tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm VADS; thực tiễn thi hành các quy định này qua các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân các cấp.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Tập trung vào quan điểm học thuật và hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam (không nghiên cứu pháp luật nước ngoài).
    • Thời gian: Trọng tâm là BLTTDS năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành, đối chiếu với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi năm 2011); khảo sát các bản án, quyết định từ ngày BLTTDS năm 2015 có hiệu lực (01/7/2016) đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2023).
    • Nội dung: Giới hạn trong phạm vi phiên tòa dân sự cấp sơ thẩm, không mở rộng sang giai đoạn phúc thẩm.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

  • Cơ sở pháp lý và văn bản áp dụng:
    • Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011).
    • Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC ban hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự.
    • Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành phần thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm.
    • Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/8/2016 quy định việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân trong việc thi hành một số quy định của BLTTDS năm 2015.
    • Án lệ số 12/2017/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua về xác định trường hợp đương sự được triệu tập hợp lệ lần thứ nhất sau khi Tòa án đã hoãn phiên tòa.
    • Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ tố tụng dân sự.
    • Chỉ thị số 02/2020/CT-CA ngày 10/3/2020 của Chánh án TANDTC về phòng chống dịch bệnh trong ngành Tòa án.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt nhằm phân tích quy định luật thực định, làm sáng tỏ các luận điểm lý luận và tổng hợp các bất cập từ thực tiễn xét xử.
    • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các điều luật tương ứng giữa BLTTDS năm 2004/2011 và BLTTDS năm 2015; so sánh các cách hiểu và đường lối xét xử giữa Tòa án các cấp (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm).
  • Nguồn dữ liệu: Các giáo trình chuyên ngành của Trường Đại học Luật Hà Nội, sách chuyên khảo bình luận khoa học BLTTDS năm 2015, kỷ yếu hội thảo khoa học, các bài báo trên tạp chí Luật học, Nghề luật, Tòa án nhân dân, Kiểm sát, Nghiên cứu lập pháp, cùng các hồ sơ vụ án, quyết định giám đốc thẩm của TAND cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và bản án phúc thẩm tại các địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về hoãn và tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự

Tác giả hệ thống hóa cơ sở lý luận, chỉ rõ bản chất pháp lý của việc tạm dừng phiên xử sơ thẩm và phân tích thực trạng các quy định pháp luật thực định trong BLTTDS năm 2015.

1. Khái niệm, đặc điểm và phân định các chế định liên quan:

  • Hoãn phiên tòa sơ thẩm VADS: Là việc Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành phiên tòa xét xử theo thời gian đã ấn định mà quyết định chuyển thời điểm tiến hành sang thời điểm khác muộn hơn khi có căn cứ do pháp luật quy định. Phiên tòa khi mở lại sẽ được tiến hành xét xử lại từ đầu.
  • Tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm VADS: Là việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định tạm thời dừng phiên tòa đang diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định khi xuất hiện các tình tiết, sự kiện theo quy định của pháp luật, và phiên tòa sẽ được tiếp tục diễn ra khi các lý do tạm ngừng đã được khắc phục.
  • Phân biệt Hoãn phiên tòa, Tạm ngừng phiên tòa và Tạm đình chỉ giải quyết VADS:
Tiêu chí so sánh Hoãn phiên tòa sơ thẩm Tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm Tạm đình chỉ giải quyết VADS
Thời điểm áp dụng Phiên tòa chưa mở hoặc chưa xét xử nội dung tranh chấp Phiên tòa đang diễn ra (thường ở phần tranh tụng) Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án (trước hoặc tại phiên tòa)
Chủ thể có thẩm quyền HĐXX (hoặc Thẩm phán chủ tọa ký thay mặt) tại phiên tòa HĐXX tại phiên tòa Thẩm phán (trước khi mở phiên tòa) hoặc HĐXX (tại phiên tòa)
Thời hạn áp dụng Không quá 01 tháng (thủ tục rút gọn không quá 15 ngày) Không quá 01 tháng kể từ ngày ra quyết định Không xác định trước thời hạn cụ thể (kéo dài đến khi lý do chấm dứt)
Hậu quả pháp lý khi hết hạn Mở lại phiên tòa và xét xử lại từ đầu; nếu chưa thể mở thì thông báo bằng văn bản Tiếp tục tiến hành phiên tòa; nếu lý do chưa được khắc phục thì chuyển sang tạm đình chỉ Khi căn cứ tạm đình chỉ không còn, Tòa án ra quyết định tiếp tục giải quyết vụ án
Hình thức văn bản Quyết định hoãn phiên tòa (không bị kháng cáo, kháng nghị) Quyết định tạm ngừng phiên tòa (không bị kháng cáo, kháng nghị) Quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS (có thể bị kháng cáo, kháng nghị)

2. Thực trạng pháp luật về hoãn phiên tòa sơ thẩm VADS:

  • Căn cứ hoãn (Điều 233, Điều 227 BLTTDS năm 2015): BLTTDS năm 2015 đã bãi bỏ căn cứ hoãn phiên tòa do vắng mặt Kiểm sát viên (KSV) khi VKS phải tham gia (Điều 232 quy định nếu KSV vắng mặt thì HĐXX vẫn tiến hành xét xử, không hoãn). Căn cứ phổ biến nhất là sự vắng mặt của đương sự theo Điều 227: vắng mặt lần thứ nhất không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì phải hoãn; vắng mặt lần thứ hai vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án "có thể hoãn".
  • Áp dụng Án lệ số 12/2017/AL: Án lệ làm rõ rằng việc triệu tập "lần thứ nhất", "lần thứ hai" không tính theo số thứ tự cơ học của các lần Tòa gửi giấy triệu tập, mà phải gắn liền với điều kiện: đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Nếu lần hoãn trước do lỗi tống đạt của Tòa án thì lần triệu tập sau vẫn được tính là lần thứ nhất đối với đương sự.
  • Bất cập về thời hạn và thẩm quyền: Khoản 1 Điều 233 quy định thời hạn hoãn không quá 01 tháng dẫn đến hai cách hiểu: tổng thời gian các lần hoãn không quá 01 tháng, hay mỗi lần hoãn không quá 01 tháng (tác giả ủng hộ cách hiểu thứ hai). Ngoài ra, khoản 3 Điều 233 quy định quyết định hoãn phải được công bố "tại phiên tòa", buộc HĐXX phải chờ đến ngày mở phiên tòa mới được hoãn dù đã biết trước đương sự nằm viện hoặc có lý do bất khả kháng, gây lãng phí chi phí và công sức của các bên.

3. Thực trạng pháp luật về tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm VADS:

  • Căn cứ tạm ngừng (Điều 259 BLTTDS năm 2015): Thay thế quy định tạm ngừng tối đa 5 ngày trong trường hợp đặc biệt (BLTTDS năm 2011) bằng 6 căn cứ cụ thể: do sức khỏe/sự kiện bất khả kháng của người tiến hành/tham gia tố tụng; cần xác minh, thu thập chứng cứ bổ sung; chờ kết quả giám định bổ sung/lại; đương sự thống nhất đề nghị tạm ngừng để hòa giải; cần báo cáo Chánh án đề nghị sửa đổi, bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.
  • Bất cập về tiêu chí sức khỏe: Việc xác định sức khỏe theo thực tế hay theo giấy khám của cơ quan y tế còn lúng túng; Văn bản số 01/2017/GĐ-TANDTC đã hướng dẫn HĐXX căn cứ tình trạng thực tế và yêu cầu xác nhận chuyên môn khi cần thiết.
  • Xung đột về thời hạn: Tồn tại 3 luồng quan điểm về thời hạn tạm ngừng: (i) có thể tạm ngừng nhiều lần và tổng thời gian có thể hơn 01 tháng; (ii) có thể tạm ngừng nhiều lần nhưng tổng thời gian không quá 01 tháng; (iii) chỉ tạm ngừng 01 lần với thời hạn tối đa 01 tháng (hoặc gia hạn nhưng tổng không quá 01 tháng). Tác giả bảo vệ quan điểm thời hạn tạm ngừng tối đa là 01 tháng, hết hạn không khắc phục được thì phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
  • Thủ tục phát sinh sau tạm ngừng: Chưa có quy định rõ ràng khi tạm ngừng để thu thập chứng cứ làm phát sinh thẩm quyền tham gia của VKS (theo khoản 2 Điều 21) hoặc làm xuất hiện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới (cần phải mở lại từ đầu hay tiếp tục phiên tòa, có phải tiến hành công khai chứng cứ và hòa giải lại hay không).

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về hoãn và tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự và một số kiến nghị

Tác giả phân tích các số liệu thực tiễn và 5 vụ án điển hình để làm rõ sai phạm của Tòa án các cấp, chỉ ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp lập pháp cụ thể.

1. Thực tiễn áp dụng và các sai phạm tố tụng điển hình:

  • Vi phạm về thời hạn hoãn phiên tòa:
    • Vụ án tranh chấp hợp đồng góp hụi (TAND huyện Thanh Trị, Sóc Trăng, thụ lý số 107/TLST-DS ngày 02/8/2018): HĐXX ra Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2018/QĐST-DS ngày 27/9/2018 do bị đơn vắng mặt. Tuy nhiên, đến tháng 02/2019 (hơn 04 tháng), Tòa án vẫn chưa mở lại phiên tòa, vi phạm khoản 1 Điều 233 BLTTDS năm 2015. VKSND huyện Thanh Trị đã phải ban hành Kiến nghị số 01/KN-VKS ngày 20/02/2019 yêu cầu Chánh án khắc phục vi phạm.
  • Vi phạm trong áp dụng căn cứ hoãn phiên tòa:
    • Vụ án tranh chấp tiền phường họ (Quyết định giám đốc thẩm số 50/2021/DS-GĐT ngày 29/01/2021 của TAND cấp cao tại Hà Nội): Bị đơn có đơn xin hoãn do đang điều trị viêm phế quản tăng huyết áp tại Bệnh viện Đa khoa huyện H (Biên bản xác minh ngày 11/5/2020 thể hiện tiên lượng nằm viện 7 ngày). HĐXX sơ thẩm hiểu sai quy định "có thể hoãn" tại khoản 2 Điều 227 nên vẫn xét xử vắng mặt bị đơn. Quyết định giám đốc thẩm đã tuyên hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
    • Vụ án tranh chấp quyền nuôi con giữa bà Đỗ Thị Kim H và ông Ngô Nguyễn Phúc Bửu L (Quyết định giám đốc thẩm số 19/2021/HN&GĐ-GĐT ngày 23/02/2021 của TAND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh): Bị đơn vắng mặt lần 3 và xin hoãn với lý do dịch COVID-19 và Chỉ thị số 02/2020/CT-CA. Tòa sơ thẩm không chấp nhận và xử vắng mặt. Tòa phúc thẩm hủy án vì cho rằng lý do hoãn là chính đáng. Tuy nhiên, TAND cấp cao xác định vụ án đã thụ lý quá hạn luật định (kéo dài 6 tháng 29 ngày), theo Chỉ thị 02 vụ án thuộc diện vẫn được mở phiên tòa nhưng phải bảo đảm phòng dịch; Tòa sơ thẩm xử vắng mặt là đúng luật, quyết định giám đốc thẩm đã hủy bản án phúc thẩm để giữ nguyên bản án sơ thẩm.
    • Vụ án tranh chấp vay tài sản giữa bà Mai Thị Th và ông Trương Q (Quyết định giám đốc thẩm số 312/2021/DS-GĐT ngày 10/9/2021 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng): Tòa sơ thẩm tống đạt giấy triệu tập cho người đại diện theo ủy quyền bị sai địa chỉ (lần 1) và bưu điện hoàn trả giấy báo không có biên bản theo khoản 4 Điều 177 (lần 2). Đến phiên tòa ngày 24/10/2019, Tòa sơ thẩm xác định đại diện bị đơn vắng mặt lần 2 nên đình chỉ yêu cầu phản tố. TAND cấp cao xác định theo Án lệ số 12/2017/AL, lần hoãn ngày 24/10/2019 thực chất mới là vắng mặt hợp lệ lần 1, việc Tòa sơ thẩm đình chỉ yêu cầu phản tố là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.
  • Vi phạm về thời hạn và hậu quả pháp lý của tạm ngừng phiên tòa:
    • Vụ án đòi đất giữa ông Đ, bà M và ông N (Bản án số 191/2018/DS-PT ngày 21/11/2018 của TAND tỉnh Bình Thuận): HĐXX sơ thẩm tạm ngừng phiên tòa 02 lần (lần 1 kéo dài 03 tháng 19 ngày; lần 2 kéo dài 01 tháng 14 ngày; tổng thời gian tạm ngừng là 04 tháng 33 ngày). Tòa sơ thẩm còn ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử để mở lại phiên tòa sau khi tạm ngừng. Cấp phúc thẩm đã chỉ rõ vi phạm thời hạn tạm ngừng quy định tại khoản 2 Điều 259 BLTTDS.
    • Vụ án đòi nhà đất giữa bà P, ông T và ông Q, bà T (Bản án số 05/2018/DS-PT ngày 23/01/2018 của TAND tỉnh Điện Biên): Ngày 10/10/2017, HĐXX sơ thẩm ra Quyết định tạm ngừng số 01/2017/QĐST-DS (ấn định mở lại vào 10/11/2017). Tuy nhiên, ngay trong ngày 10/10/2017, HĐXX lại ra luôn Quyết định tạm đình chỉ số 02/2017/QĐST-DS với lý do "hết thời hạn tạm ngừng mà chưa khắc phục được lý do". Bản án phúc thẩm xác định việc ra quyết định tạm đình chỉ ngay trong ngày là trái khoản 2 Điều 259 BLTTDS và vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

2. Nguyên nhân của những hạn chế:

  • Nguyên nhân từ hệ thống pháp luật: Luật thực định thiếu chặt chẽ, chưa quy định rõ tổng thời gian hoãn tối đa, chưa có điều luật cho phép hoãn trước khi mở phiên tòa, chưa hướng dẫn cụ thể cách xử lý khi có đương sự mới hoặc KSV tham gia sau khi tạm ngừng.
  • Nguyên nhân từ công tác hướng dẫn, giải thích pháp luật: Các văn bản hướng dẫn còn tản mạn, chậm ban hành; việc áp dụng Án lệ số 12/2017/AL còn nhiều vướng mắc cục bộ.
  • Nguyên nhân từ chủ thể áp dụng: Trình độ nghiệp vụ và nhận thức của một bộ phận Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân (HTND) còn hạn chế; áp lực quá tải án dẫn đến tâm lý nóng vội muốn xử xong vụ án hoặc ngược lại lạm dụng hoãn/tạm ngừng để có thêm thời gian nghiên cứu hồ sơ.

3. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

  • Sửa đổi khoản 1 Điều 233 BLTTDS năm 2015: Quy định rõ thời hạn 01 tháng áp dụng cho mỗi lần hoãn phiên tòa, đồng thời bổ sung giới hạn trần: "tổng thời hạn các lần hoãn phiên tòa tối đa không quá 02 tháng".
  • Bổ sung thẩm quyền hoãn trước khi mở phiên tòa: Sửa đổi các Điều 203, Điều 233 và Điều 235 BLTTDS theo hướng: Cho phép Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền ra Quyết định hoãn phiên tòa trước thời điểm mở phiên tòa khi phát sinh căn cứ thuộc khoản 1 Điều 227 hoặc sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan chắc chắn không thể mở phiên tòa đúng thời gian.
  • Đổi tên Điều 233 BLTTDS năm 2015: Đổi từ "Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa" thành "Hoãn phiên tòa" để bao quát toàn bộ căn cứ, thẩm quyền, thời hạn và hậu quả pháp lý.
  • Nâng cao hiệu quả áp dụng: Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng đánh giá chứng cứ và căn cứ tố tụng cho Thẩm phán và HTND; ban hành nghị quyết hướng dẫn chuyên sâu về tạm ngừng phiên tòa.

Kết quả và đóng góp của nghiên cứu

  • Kết quả cụ thể:
    • Phân tích có căn cứ 5 bản án và quyết định giám đốc thẩm thực tế (QĐ 50/2021/DS-GĐT, QĐ 19/2021/HN&GĐ-GĐT, QĐ 312/2021/DS-GĐT, Bản án 191/2018/DS-PT, Bản án 05/2018/DS-PT) để chỉ ra các dạng vi phạm điển hình về thời hạn hoãn, căn cứ triệu tập đương sự, tống đạt văn bản và việc chuyển hóa trái pháp luật giữa tạm ngừng và tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
    • Làm rõ sự bất hợp lý trong việc HĐXX ban hành "Quyết định đưa vụ án ra xét xử" sau khi tạm ngừng phiên tòa, khẳng định văn bản phù hợp chỉ là "Thông báo tiếp tục phiên tòa".
  • Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
    • Xây dựng mô hình quy phạm cụ thể sửa đổi Điều 233 BLTTDS năm 2015: tách bạch thẩm quyền của Thẩm phán chủ tọa (trước phiên tòa) và của HĐXX (tại phiên tòa), khống chế trần thời gian hoãn tối đa 02 tháng.
    • Đề xuất cơ chế giải quyết tố tụng khi tạm ngừng thu thập chứng cứ: phải công khai chứng cứ và hòa giải lại nếu xuất hiện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới; trao quyền chủ động cho HĐXX quyết định bước tố tụng tiếp theo khi có KSV tham gia.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước:
    • Khác với các luận án tiến sĩ nghiên cứu toàn diện phiên tòa sơ thẩm nói chung (Bùi Thị Huyền, 2008) hoặc các sách bình luận thuần túy điều luật (Bùi Thị Huyền, 2017; Trần Anh Tuấn, 2017), khóa luận này là công trình chuyên khảo đầu tiên đi sâu nghiên cứu độc lập, chuyên biệt về hai chế định hoãn và tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm theo BLTTDS năm 2015 trên cả phương diện lý luận lẫn án văn thực tiễn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của nghiên cứu: Do giới hạn về thời gian, nguồn lực và phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài chỉ tập trung khảo cứu thủ tục sơ thẩm VADS tại Việt Nam; chưa mở rộng so sánh kinh nghiệm lập pháp của các nền tư pháp trên thế giới về chế định tạm dừng phiên xử dân sự.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu chế định hoãn và tạm ngừng phiên tòa tại cấp xét xử phúc thẩm vụ án dân sự.
    • Nghiên cứu đối chiếu so sánh pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam với pháp luật tố tụng của các quốc gia theo truyền thống Dân luật (Civil Law) và Thông luật (Common Law) về vấn đề hoãn và tạm ngừng xét xử.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng hưởng lợi:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Tố tụng Dân sự: Cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh, bảng so sánh đối chiếu rõ ràng giữa ba chế định tố tụng dễ gây nhầm lẫn (hoãn, tạm ngừng, tạm đình chỉ).
    • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân: Tham khảo các bài học kinh nghiệm từ 5 bản án/quyết định giám đốc thẩm bị hủy, sửa nhằm tránh vi phạm thủ tục tống đạt, xác định đúng tư cách triệu tập lần 1, lần 2 theo Án lệ số 12/2017/AL.
    • Kiểm sát viên và Luật sư: Nắm vững các căn cứ pháp lý để thực hiện quyền kiến nghị vi phạm thời hạn tố tụng hoặc bảo vệ quyền được hoãn/tạm ngừng phiên tòa của đương sự khi có trở ngại khách quan.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Phần phân tích các quyết định giám đốc thẩm của TAND cấp cao và mô hình điều luật đề xuất sửa đổi Điều 233 BLTTDS năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Án lệ số 12/2017/AL giải thích như thế nào về việc xác định "triệu tập hợp lệ lần thứ nhất" và "lần thứ hai" theo Điều 227 BLTTDS năm 2015? Trả lời: Theo Án lệ số 12/2017/AL, việc triệu tập lần thứ nhất và lần thứ hai không được tính thuần túy theo thứ tự số học của giấy triệu tập mà phải gắn liền với điều kiện: đương sự được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Nếu Tòa án hoãn phiên tòa do lỗi tống đạt không hợp lệ từ phía Tòa án, thì lần mở phiên tòa tiếp theo vẫn được tính là lần triệu tập hợp lệ thứ nhất đối với đương sự.

2. Tại sao tác giả kiến nghị cho phép Thẩm phán chủ tọa được quyền ra quyết định hoãn phiên tòa trước khi mở phiên tòa? Trả lời: Vì theo khoản 3 Điều 233 hiện hành, quyết định hoãn phiên tòa bắt buộc phải do HĐXX thông qua và công bố "tại phiên tòa". Quy định này khiến Tòa án dù đã biết trước đương sự gặp sự kiện bất khả kháng (như tai nạn, nằm viện cấp cứu) vẫn phải chờ đến ngày mở phiên tòa mới được tuyên bố hoãn, gây lãng phí lớn về thời gian, công sức và chi phí đi lại của các bên tham gia tố tụng.

3. Trong trường hợp tạm ngừng phiên tòa làm xuất hiện người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới, Tòa án phải xử lý tố tụng như thế nào? Trả lời: Tác giả lập luận rằng khi có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới xuất hiện sau khi tạm ngừng phiên tòa, để bảo đảm quyền tố tụng của họ, Tòa án phải tiến hành thụ lý yêu cầu độc lập (nếu có), đồng thời phải thực hiện lại thủ tục công khai chứng cứ và hòa giải đối với người mới tham gia trước khi tiếp tục phiên tòa xét xử.

4. Sai phạm cụ thể về thời hạn hoãn phiên tòa trong vụ án hụi số 107/TLST-DS tại TAND huyện Thanh Trị là gì? Trả lời: Sau khi HĐXX sơ thẩm ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2018/QĐST-DS ngày 27/9/2018 vì bị đơn vắng mặt, Tòa án đã để kéo dài hơn 04 tháng (đến tháng 02/2019) mà không mở lại phiên tòa, vi phạm nghiêm trọng thời hạn hoãn tối đa 01 tháng theo khoản 1 Điều 233 BLTTDS năm 2015, buộc VKSND huyện Thanh Trị phải ban hành Kiến nghị số 01/KN-VKS ngày 20/02/2019 để chấn chỉnh.

5. Hậu quả pháp lý khi hết thời hạn tạm ngừng phiên tòa 01 tháng mà căn cứ tạm ngừng chưa được khắc phục là gì? Trả lời: Theo khoản 2 Điều 259 BLTTDS năm 2015, khi hết thời hạn tạm ngừng tối đa 01 tháng mà lý do tạm ngừng chưa thể khắc phục, HĐXX phải ban hành Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tòa án không được quyền tiếp tục kéo dài thời gian tạm ngừng hoặc tùy tiện mở phiên tòa mới bằng Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến đã làm rõ các giá trị lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng chế định hoãn và tạm ngừng phiên tòa sơ thẩm VADS theo BLTTDS năm 2015. Thông qua việc mổ xẻ các sai phạm thực tiễn từ các bản án thực tế và quyết định giám đốc thẩm, công trình đã chỉ ra những lỗ hổng pháp lý cốt lõi về thẩm quyền, thời hạn và hệ quả tố tụng. Các đề xuất sửa đổi Điều 233 BLTTDS năm 2015 cùng giải pháp nâng cao năng lực chủ thể áp dụng pháp luật mang tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho tiến trình hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.