Chương 1 l ; NHUNG VAN DE LY LUAN VA QUY DINH CUA PHAP LUAT VE SO HỮU CHUNG CUA VO CHONG 1. KHÁI NIỆM, NOI DUNG VE SO HỮU CHUNG CUA VO CHONG 1. Khái niệm a) Khải niệm tài sản chung của vợ chong Tài sản của vợ chồng cũng là một loại tài sản theo pháp luật dân sự, vì vậy, nghiên cứu vấn đề tài sản của vợ chồng phải đặt trong bối cảnh của chế định tài sản nói chung. Tài sản là đối tượng của quyền sở hữu, là khách thể của phần lớn các quan hệ pháp luật dân sự.
Tuy nhiên, tài sản là một khái niệm rộng, dưới góc độ pháp lý, rất khó có thé định nghĩa cụ thé về tài sản. Pháp luật các nước thường không đưa ra định nghĩa cụ thể về tài sản mà nó thường được hiểu thông qua các học thuyết pháp lý hoặc hiểu gián tiếp thông qua các quy định khác. Vi dụ, Bộ luật dân sự (BLDS) Pháp không trực tiếp đưa ra khái niệm tài sản mà chỉ ghi nhận "tài sản được chia thành động sản và bất động sản" (Điều 156) [24], BLDS Nhật Bản cũng chỉ nêu ra những vật được coi là động sản, bat động sản, vật chính, vật phụ (Điều 85 đến Điều 88) [23]. mà không định nghĩa tài sản.
Khác với cách quy định của các bộ luật trên, pháp luật dân sự nước ta chọn cách định nghĩa tài sản bằng cách liệt kê những đối tượng được coi là tài sản "tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản" (Điều 163) [3]. Theo cách liệt kê trên, các đối tượng là tài sản được xác định như sau: - Vật được coi là tài sản phải là một bộ phận của thế giới vat chất và nằm trong sự kiểm soát của con người. Đồng thời, vật phải mang lại lợi ích cho con người, tức là phục vụ cho các nhu cầu về sinh hoạt, sản xuất, tiêu dùng. của con người.
- Tiền là thước đo giá trị của hàng hóa, là phương tiện thanh toán. Ngoài ra, tiền còn có ý nghĩa về mặt chính trị - xã hội, nó thể hiện chủ quyền của quốc gia. Vì thế, việc phát hành, đưa tiền vào hay rút tiền khỏi lưu thông đều được Nhà nước kiểm soát chặt chẽ. - Giấy tờ có giá là "bang chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác" (Điểm 8 Điều 6 BLDS) [3].
Vi dụ như hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, trái phiếu Chính phủ. - Quyên tài sản theo quy định tại Điều 181 BLDS năm 2005 "là quyền tri giá được bằng tiền và có thé chuyền giao trong giao dịch dân sự, ké cả quyền sở hữu tri tuệ" [3]. Như vậy, dé một quyền được coi là quyền tai sản nó phải đáp ứng được hai All 10 yêu cầu cơ bản đó là trị giá được bằng tiền và có thể chuyên giao được trong giao dich dân sự. Có thể kế ra các quyền tài sản như quyền nhận lợi tức cô phiếu, quyền hưởng nhuận bút của tác giả tác phẩm văn học, nghệ thuật,quyền nhận thù lao của chủ sở hữu văn bang sáng chế.
Như vậy, theo quy định của BLDS năm 2005 các đối tượng là tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Khái niệm và các quy định về tài sản, quyền sở hữu trong Luật dân sự là khái niệm gốc, là cơ sở dé các luật chuyên ngành xây dựng các khái niệm tai san cụ thể theo tính chất riêng của ngành luật mình, ví dụ như khái niệm tài sản góp vốn trong Luật Doanh nghiệp, tài sản của vợ chồng trong Luật HN&GD. Trong bối cảnh nền kinh tế đất nước đang phát triển sôi động trên tất cả các ngành, các lĩnh vực như hiện nay, gia đình là chủ thể tham gia vào rất nhiều các hoạt động kinh tế, xã hội khác nhau. Việc hộ gia đình được BLDS công nhận là một chủ thé của quan hệ pháp luật dân sự và Luật Dat đai công nhận hộ là chủ thé được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.đã tạo những tiền đề cơ bản dé kinh tế hộ gia đình nói chung và tài sản của vợ chồng nói riêng phát triển ngày càng nhanh chóng.
Theo nội hàm của khái niệm tài sản quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 thì tài sản của vợ chồng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản khác. Như vậy, tài sản của vợ chồng cũng bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản thuộc sở hữu của vợ chồng. Tài sản của vợ chồng gồm có tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của vợ, chồng. Tuy nhiên, vì phạm vi luận van chỉ đề cập đến vấn đề tài sản chung của vợ chồng nên xin phép không phân tích van dé tai sản riêng ở đây.
Về tài sản chung, Điều 214 BLDS năm 2005 quy định "tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung” [3]. Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung của cả vợ và chồng - vợ, chồng cùng là chủ sở hữu đối với khối tài sản đó. Đặc điểm của tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất, tức là "phần quyền của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung" (Khoản 1 Điều 217 BLDS) [3]. Theo đó, khi hôn nhân còn tồn tại, không thể xác định được phan tài sản cụ thé của vợ, chồng trong khối tài sản chung.
Khối tài sản chung của vợ chồng thường hình thành từ khi hai bên nam nữ bắt đầu bước vào cuộc sống VỢ chồng thông qua sự kiện kết hôn và sẽ liên tục được bé sung trong suốt TKHN bang nhiều nguồn khác nhau. lãi b) Khải niệm sở hữu chung của vợ chong Trong lĩnh vực HN&GD, ngoài quan hệ nhân thân còn có quan hệ về tài sản. Trong đó nổi bật nhất là tài sản chung giữa vợ và chồng. Phần tài sản chung này thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
Theo đó, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định, đoạt tài sản chung. Khi hôn nhân còn ton tại, vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau quyền sở hữu tài sản chung đó. Vậy dé hiểu như thé nào về sở hữu chung và sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng? Trước tiên, theo Điều 214 BLDS năm 2005 quy định: Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể doi với tài sản. Sở hữu chung bao gôm sở hữu chung theo phan và sở hữu chung hợp nhất.
Tài sản thuộc sở hữu chung là tài sản chung. [3] Như vậy, có thé hiểu sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thé đối với tài sản hay tập hợp các tài sản mang giá trị kinh tế nhất định. Sở hữu chung gồm 03 loại: - Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu của nhiều chủ thể, mà trong đó phần quyên tài sản của mỗi một chủ thé không được xác định trong khối tài sản chung khi sở hữu chung hợp nhất vẫn còn tồn tại. Tính chất đặc thù của sở hữu chung hợp nhất được quy định tại khoản 1 Điều 217 BLDS: "Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung"[3].
- Sở hữu chung theo phần: là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung (Điều 216 BLDS). - Sở hữu chung hỗn hợp: là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận (Điều 218 BLDS). Thông thường quyền sở hữu chung hợp nhất chỉ phát sinh trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Cụ thể, quy định tại Điều 219 BLDS xác định tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng là chủ sở hữu chung hợp nhất: “Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.
Vo chong cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyên ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Vợ chông cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyên cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Tài sản chung của vợ chẳng có thé chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án”. Đó là khối tài sản do vợ chồng làm ra trong TKHN băng công sức của mỗi người hoặc do được tặng cho chung, thừa kế chung.
12 Hiện nay, đây là cơ sở pháp lý duy nhất đưa ra cách hiểu về sở hữu chung của vợ chồng, do đó tạo ra quan niệm thống nhất về sở hữu chung của vợ chồng trong khoa học pháp lý ở Việt Nam. Tại Điều 172 BLDS năm 2005 có quy định: Sở hữu chung hợp nhất bao gom sở hitu chung hợp nhất có thé chia và sở hữu chung hợp nhất không thé chia [3]. Theo đó, sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thé chia. Nội dung Vợ và chồng đều có đầy đủ 03 quyền năng đối với tài sản thuộc khối tài sản chung là: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt.
Việc thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Vợ chong có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Khi hôn nhân còn tồn tại, vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyên cho nhau quyền sở hữu tài sản chung đó. Tai Déu 219 BLDS năm 2005 và Điều 35 Luật HN&GD 2014 quy định rõ: 1.
Việc chiếm hữu, sử dung, định đoạt tài san chung do vợ chong thỏa thuận. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chong trong những trường hợp sau đây: a) Bat động sản; b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyên sở hữu; c) Tài sản dang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. [7] Theo đó, vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung. Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc thực hiện quyền sở hữu chung hợp nhất.