CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CĂN CỨ LY HÔN 1.1 Khái niệm căn cứ ly hôn 1.1 Khái niệm ly hôn Hôn nhân là một hiện tượng xã hội có trong quá trình phát sinh, phát triển bao gồm: kết hôn, duy trì quan hệ hôn nhân và ly hôn. Quan hệ hôn nhân dưới chế độ xã hội chủ nghĩa với đặc điểm tồn tại lâu dài bền vững cho đến suốt cuộc đời vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương gắn bó giữa vợ chồng. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng vì những lý do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn được đặt ra để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khoi mâu thuẫn gia đình.
Nếu kết hôn là một hiện tượng xã hội bình thường thì ngược lại ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng lại là mặt không thể thiếu, khi quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của mình. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thể đạt được. Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình.
Theo khoản 14 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014 thì ly hôn được định nghĩa như sau: ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Theo khoản 1 Điều 16 Bản tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc, đã ghi nhận nam và nữ khi đủ tuổi đều có quyền kết hôn và xây dựng gia đình mà không có bất kỳ sự hạn chế nào do chủng tộc, quốc tịch hoặc tôn giáo. Họ được hưởng các quyền bình đẳng khi kết hôn trong thời gian chung sống và khi chia tay. Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng nghĩa là phải đảm bảo quyền tự do kết hôn và quyền tự do ly hôn.
Pháp luật không bắt buộc nam nữ kết hôn khi họ không yêu nhau thì cũng không bắt buộc vợ chồng phải sống chung với nhau khi tình yêu giữa họ không còn nữa. Pháp luật của nhà nước Việt Nam công nhận và bảo vệ quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng. Quyền yêu cầu ly hôn là quyền gắn với nhân thân của vợ chồng, vợ chồng hoặc cả hai vợ chồng, hay theo quy định Luật HN&GĐ 2014 là cha, mẹ, người thân thích thuộc trường hợp do luật quy 5 định mới có quyền yêu cầu ly hôn.
Thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ, nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng nghĩa là phải đảm bảo quyền tự do kết hôn và quyền tự do ly hôn. Việc thừa nhận quyền ly hôn là một mặt tất yếu của hôn nhân, không có nghĩa là khuyến khích vợ chồng bo nhau. Thực ra tự do ly hôn không có nghĩa là làm tan rã những mối quan hệ gia đình mà ngược lại nó củng cố những mối quan hệ đó trên cơ sở dân chủ những cơ sở duy nhất có thể có và vững chắc trong một xã hội văn minh. Nhà nước một mặt ghi nhận quyền tự do ly hôn, mặt khác bằng pháp luật đặt ra cơ sở pháp lý nhất định xác định tình trạng quan hệ hôn nhân như thế nào thì được phép ly hôn, kiểm soát việc giải quyết ly hôn nhằm tránh việc sử dụng quyền ly hôn một cách tùy tiện.
Pháp luật quy định tòa án là cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn dựa trên yêu cầu của vợ hoặc chồng, tòa án thực hiện chức năng xét xử, giải quyết các yêu cầu của công dân theo trên đầu thủ tục luật định. Tòa án có quyền ra phán quyết bản án tuyên xử ly hôn, quyết định công nhận thuận tình ly hôn, quyết định bác đơn yêu cầu ly hôn, việc giải quyết ly hôn phải dựa trên căn cứ ly hôn luật định. Như vậy, chấm dứt hôn nhân do ly hôn là kết quả của hành vi có ý chí của một hoặc cả hai vợ chồng hay do cha mẹ, người thân thích khác có yêu cầu thuộc trường hợp theo luật định thông qua quyết định của tòa án. Mặt khác việc giải quyết ly hôn và quyết định cuối cùng về mặt pháp lý có chấp nhận cho ly hôn hay không, đó là công việc của Tòa án.
Chỉ có Tòa án là cơ quan nhà nước duy nhất có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn. Điều này chứng to việc ly hôn của vợ chồng, dù mang ý nghĩa riêng tư nhưng phải được đặt dưới sự kiểm soát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi thành viên trong gia đình, bảo vệ lợi ích của xã hội và của Nhà nước.2 Khái niệm căn cứ ly hôn Hôn nhân là hiện tượng mang tính xã hội, mang tính giai cấp sâu sắc. Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước, bằng pháp luật quy định chế độ hôn nhân phù hợp với lợi ích của giai cấp, nhà nước xác định rõ những trường hợp được phép kết hôn và những trường hợp được phép ly hôn. Nhà nước quy định những căn cứ để được kết hôn và những điều kiện để được ly hôn, ý chí của các bên đương sự không phải là điều kiện quyết định để phá bo hôn nhân mà việc ly hôn phải căn cứ vào điều kiện được quy định trong Luật HN&GĐ, nó phản ánh hôn nhân không thể tồn tại được nữa, nghĩa là hôn nhân “đã chết”.
Việc quy định những căn cứ ly hôn phải phù hợp với bản chất của sự việc, phù hợp với tình trạng thực tế của hôn nhân, phải xác 6 định trong điều kiện nào thì cuộc hôn nhân đã không còn tồn tại. Việc Tòa án xét xử cho ly hôn chỉ là công việc công nhận một thực tế khách quan là cuộc hôn nhân đó không tồn tại nữa. Chính vì vậy mà căn cứ ly hôn là rất khó, nó đòi hoi phải hết sức khoa học, phù hợp với bản chất, đạo đức Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phù hợp với ý chí và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Như vậy, căn cứ ly hôn là những tình tiết hay các điều kiện pháp lý do pháp luật quy định.
Và chỉ khi có những tình tiết, hay điều kiện đó, thì Tòa án mới quyết định cho vợ chồng ly hôn. Đó là điều kiện cần và đủ được quy định một cách thống nhất trong pháp luật, dựa trên các điều kiện đó thì Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn. Hệ thống pháp luật HN&GĐ của nhà nước ta từ năm 1945 đến nay đã quy định căn cứ ly hôn ngày càng hoàn thiện, phù hợp, là cơ sở pháp lý để tòa án giải quyết các án kiện ly hôn. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện quyền tự do kết hôn của nam nữ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn của vợ chồng nhằm chấm dứt quan hệ vợ chồng và quyền tự do ly hôn theo đúng bản chất thật sự của mối quan hệ giữa vợ và chồng: “Ly hôn chỉ là việc xác nhận một sự kiện – đó là hôn nhân đã chết, sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và lừa dối.
Đương nhiên, không phải ý chí của nhà lập pháp, cũng không phải sự tùy tiện của mỗi cá nhân, mà chỉ bản chất của sự kiện mới quyết định được cuộc sống hôn nhân này đã chết hay chưa chết,…1” Nhà lập pháp chỉ có thể xác định những điều kiện bản chất của mối quan hệ, theo đó những trường hợp nào về mặt pháp lý hôn nhân được coi là sự tan vỡ nghĩa là về thực chất hôn nhân tự nó đã phá vỡ và việc tòa án cho phép phá bo hôn nhân chỉ là việc ghi biên bản công nhận sự tan vỡ bên trong của nó và chỉ khi nào hôn nhân xét về bản chất không còn là hôn nhân nữa, tòa án mới được xử cho ly hôn. Hệ tư tưởng tôn giáo luôn có ảnh hưởng không nho tới các quy định của pháp luật, đặc biệt là vấn đề ly hôn là quan hệ tình cảm, bị chi phối bởi các tư tưởng tôn giáo, xã hội đương thời. Đối với những nước chịu ảnh hưởng của tôn giáo theo kinh thánh, hôn nhân là do sự tác hợp của Chúa – không hể tự ý xóa bo nên nhiều nước chịu ảnh hưởng của tôn giáo không cho phép vợ chồng ly hôn. Chế độ Ngô Đình Diệm với Luật gia đình năm 1959 quy định vấn đề ly thân nhưng lại cấm ly hôn.
Căn cứ ly hôn được quy định trên cơ sở các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa trong từng thời kỳ lịch sử. Pháp luật phong kiến đề cao bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông, trách 1 Trích từ Giáo trình luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam. Nxb Hồng Đức. Trường Đại học Quốc Gia Tp.
Hồ Chí Minh. Tr 426 (Các Mác và Ph. Ăng ghen: Toàn tập, Bản dự luật về ly hôn- 1842, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 1, tr 231- 235.) 7 nhiệm của người đàn ông. Do đó, pháp luật phong kiến luôn “trọng nam, khinh nữ” gây ra sự bất bình đẳng trong vấn đề ly hôn giữa vợ và chồng.
Căn cứ ly hôn trên cơ sở đạo đức Nho giáo, đặt ra đối với người đàn ông với vai trò gia trưởng trong gia đình. Tới thời kỳ thực dân Pháp, chủ nghĩa nhân dân ảnh hưởng tới từng gia đình, từng quy định pháp lý. Luật cho phép thuận tình ly hôn trong trường hợp vợ chồng không hợp tính tình. Nhiều quy định của pháp luật hôn nhân thời kỳ Pháp thuộc có ảnh hưởng rất lớn tới đời sống nhân dân ta.
Khi tới thời kỳ xã hội chủ nghĩa, kinh tế phát triển, vị thế của người phụ nữ ngày càng được nâng cao.