CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE CẢM CÓ 1.1 Cầm cố là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vu 1.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dan sự Quan hệ pháp luật dân sự luôn diễn ra phô biên trong đời sông kinh tê-xã hội. Khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự các chủ thể có quyền và nghĩa vụ tương ứng với nhau (trừ một số quan hệ pháp luật đặc thù). Lợi ích của chủ thé có quyên phụ thuộc vào hành vi của chủ thé có nghĩa vụ. Dé khắc phục tình trạng chủ thé có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không day đủ ảnh hưởng đến lợi ích của chủ thể có quyền.
Đồng thời tạo điều kiện cho người có quyền có thế chủ động trong việc hưởng các quyên dân sự, pháp luật cho phép các bên có thê thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm giao kết hợp đồng cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Các biện pháp này được quy định cụ thê trong BLDS 2005 từ Điều 324 đến Điều 379, ND 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm và một số văn bản khác. Theo đó các biện pháp bảo đảm được quy định bao gom: cầm có, thé chấp, đặt cọc, ký cược, bảo lãnh, ký quỹ và tín chấp. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự được hiểu là sự thỏa thuận của các bên trong việc lựa chọn và áp dụng một hoặc một số biện pháp nhất định nhằm bảo đảm thực hiện quan hệ nghĩa vụ mà họ đang tham gia.
Còn biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là biện pháp được xác định khi các bên tiến hành giao két hop đồng và mang tinh chất dự phòng, sẽ được áp dụng dé khấu trừ khi nghĩa vụ không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng. Hiểu theo phương diện nội dung và tính chất bảo đảm, thì “Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” không chỉ bao gồm các biện pháp liệt kê ở Điều 318 BLDS 2005, mà còn có thể là các biện pháp sau: Thiết lập tình trạng liên đới trong việc thực hiện nghĩa vụ (Điều 304 BLDS 2005); Cho phép bù trừ nghĩa vụ (Điều 380 BLDS 2005); Bán với điều kiện bảo lưu quyền sở hữu của người bán cho đến khi nhận đủ tiền bán tài sản (Điều 462 BLDS 2005). Tuy nhiên các biện pháp đã liệt kê trong BLDS là phổ biến, cho nên BLDS đã quy định cơ chế bảo đảm và phương thức thực hiện quyền của bên được bảo đảm. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chia thành bảo đảm đối nhân và bảo đảm đối vật.
Bảo đảm đổi nhân: là việc người thứ ba đứng ra bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ trước người có quyền. Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thì người có quyền được yêu cầu người thứ ba phải thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ. Theo quy định của BLDS 2005 thì biện pháp bảo lãnh và tín chấp là hai biện pháp mang tính chất đối nhân. Bao đảm đổi vật: là việc người có nghĩa vụ dùng chính tài sản của mình bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ.
Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ thì người có quyền được yêu cầu người có nghĩa vụ xử lý tài sản bảo đảm hoặc tự mình xử lý tài sản bảo đảm nếu các bên không có thỏa thuận hoặc yêu cầu cơ quan có trách nhiệm tiến hành bán đấu giá tài sản bảo đảm dé bảo vệ quyền lợi của mình. Tài sản bảo đảm có thể do người có nghĩa vụ hoặc người có quyền cầm giữ, cũng có thể do người thứ ba cầm giữ theo sự thỏa thuận của các bên. Theo quy định của BLDS 2005 thì các biện pháp bảo đảm đối vật gồm có: cầm có, thế chấp, đặt cọc, ký quỹ và ký cược.2 Đặc điểm các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Các biện pháp bảo đảm có những đặc điểm đặc thù hoàn toàn khác so với đặc điểm của các giao dịch dân sự thông thường do bị chi phối bởi mục đích và tính chất bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Theo đó, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vu dan sự có các đặc điểm sau: > Thứ nhất: Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chỉ phát sinh trên cơ sở có sự thỏa thuận của các bên chủ thể.
Nếu các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ những căn cứ khác nhau thì các biện pháp bảo dam chỉ có thé phát sinh thông qua sự thỏa thuận của các bên trong một giao dịch dân sự. Xuất phát từ bản chất của các biện pháp bảo đảm, pháp luật cũng không quy định một cách cụ thể, cứng nhắc mà chỉ quy định các biện pháp bảm đảm, quy định chung về quyên và nghĩa vụ của các bên khi tham gia biện pháp bao đảm tương ứng. Vi vậy, trong giao dịch dân sự cụ thé thì các bên có thể thỏa thuận lựa chọn biện pháp bảo đảm phù hợp mà pháp luật quy định. Có thé coi biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như một điều kiện dé hai bên đối tác tự đặt ra dé tiễn hành giao dich dân sự với nhau.
Ví dụ trong quan hệ cho vay tiền, bên cho vay chỉ cho vay khi bên vay có tài sản thế chấp, đồng thời bên vay chỉ vay và chấp nhận thế chấp tài sản sao cho có lợi nhất cho mình, nghĩa là hai bên cùng muốn tiễn hành giao dịch với phương án có lợi nhất. Vì vậy hai bên chỉ gặp nhau nếu đạt được những thỏa thuận nhất định. Khi đặt ra việc áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, các bên thỏa thuận với nhau về đối tượng, phạm vi, phương thức xử lý tài sản, quyền và nghĩa vụ của hai bên. những thỏa thuận này không trái quy định của pháp luật dân sự sẽ là ràng buộc mang tính chất pháp lý giữa các bên.
> Thứ hai: đối tượng của các biện pháp bảo đảm bao giờ cũng là những lợi ích vật chất Khi thiết lập quan hệ nghĩa vụ dân sự, không thể đưa các quyền nhân thân làm đối tượng của các biện pháp bảo đảm, mà chỉ có thé là các lợi ích vật chất. Vì quan hệ nghĩa vụ là loại quan hệ phức tạp, quyền lợi của các bên rất dé bị xâm phạm. Do đó đối tượng của các biện pháp bảo đảm phải là lợi ích vật chất thì mới có thé xác định được tính ngang giá, qua đó thực hiện việc bù đắp tôn thất, khắc phục thiệt hại. Lợi ích vật chất ở đây chủ yếu là tài sản (tiền, vật có thực, giấy tờ trị giá được băng tiền và các quyền tài sản).
Ngoài ra, còn có thê là một công việc phải làm, nếu nó mang lại lợi ích cho bên có quyền. Tài sản là đối tượng của biện pháp bảo đảm thuộc sở hữu của người có nghĩa vụ hoặc có thé thuộc sở hữu của người khác, nhưng phải được chủ sở hữu đồng ý. Và tài sản đó phải tính được giá trị, không bị tranh chấp, được lưu thông dân sự và có thể cưỡng chế thi hành. > Thứ ba: Các biện pháp bảo dam được coi là hợp đông phụ với mục dich dé bảo dam thực hiện nghĩa vụ trong một hop đông xác định (hop động chính).
Các biện pháp bảo đảm luôn được phát sinh từ một giao dịch dân sự, cụ thé là hợp đồng dân sự. Tùy từng loại hợp đồng mà các chủ thé có thé thỏa thuận lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm phù hợp. Do chỉ được xác lập sau hoặc đồng thời với việc xác lập hợp đồng chính nên các biện pháp bảo đảm không tồn tại độc lập mà luôn gắn liền với một hợp đồng cụ thé có chứa đựng nghĩa vụ cần được bảo đảm. Đồng thời, mục đích của các biện pháp bảo đảm là nhằm bảo đảm cho hợp đồng chính được giao kết, thực hiện nên các nghĩa vụ trong giao dịch bảo đảm thường được coi là một nghĩa vụ phụ.
Mặc dù gắn liền với nghĩa vụ trong hợp đồng chính nhưng nó không phụ thuộc hoàn toàn vào hợp đồng chính, mà có tính độc lập tương đối. Xuất phát từ mối quan hệ về hiệu lực giữa hợp đồng chính và hợp đồng phụ theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 410 BLDS 2005 làm phát sinh một số hệ quả sau: Khoản 2, Điều 410 BLDS 2005 quy định: “Sự vô hiệu của hợp đông chính lam cham dứt hợp đồng phụ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hợp dong phụ được thay thé hợp đông chính. Quy định này không áp dung đối với các biện pháp bảo dam thực hiện nghĩa vụ dân sự”. Như vay, trong trường hợp hợp đồng chính vô hiệu thì các biện pháp bao đảm van có giá trị thi hành.
Điều 15 ND 163/2006/NĐ-CP quy định chi tiết về quan hệ giữa giao dịch bảo đảm và hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm. Theo đó, hiệu lực của các biện pháp bảo đảm phụ thuộc vào hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm vô hiệu đã được thực hiện hay chưa? Nếu hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị vô hiệu mà các bên chưa thực hiện thì hợp đồng đó vô hiệu và giao dịch bảo đảm chấm dứt; néu hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm đã được các bên thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng mà sau đó Tòa án mới tuyên bố vô hiệu thì các biện pháp bảo đảm vẫn có giá trị thi hành. Vi dụ, khi hợp đồng vay bị tuyên bố vô hiệu nhưng khoản tiền vay đã chuyên thì bên đi vay phải trả lại tiền vay đó. Khi đó các biện pháp bảo đảm vẫn có giá trị và tài sản bảo đảm bị xử lý để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ hoàn trả của bên có nghĩa vụ.
Trường hợp hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm bị hủy bỏ hay đơn phương cham dứt thực hiện hợp đồng đó thì giao dich bảo đảm cham đứt, nếu đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng có nghĩa vụ được bảo đảm thì giao dịch bảo đảm không cham dứt, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hop giao dich bảo đảm vô hiệu không làm cham dứt hợp đồng có nghĩa vụ bảo đảm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận biện pháp bảo đảm là một phần không thể tách rời của hợp đồng chính.