CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của cơ chế giám sát Hiến pháp Cơ chế giám sát Hiến pháp hình thành gắn với sự ra đời của Hiến pháp cũng như gắn với Nhà nước mà ở đó quyền lực phải được thừa nhận thuộc về nhân dân. Theo dòng lịch sử nhân loại trở về hàng ngàn năm trước dưới chế độ phong kiến đã tồn tại một loại quyền lực mà ở đó những người đứng đầu Nhà nước nắm giữ quyền lực tối cao. Những người đứng đầu Nhà nước được quyền quyết định tất cả mọi thứ kể cả sinh mạng của con người. Họ ban hành ra luật lệ và luật lệ đó không nhằm kiểm soát những người ở vị thế cai trị.
Dưới thời kỳ này tại các quốc gia, người đứng đầu Nhà nước thường được gọi là Vua. Ở một số nơi người đứng đầu Nhà nước còn được gọi là Hoàng thượng; Hoàng đế; Nữ hoàng; … Do ảnh hưởng bởi quan điểm duy tâm thần bí về nguồn gốc và quyền lực Nhà nước, theo quan điểm này quyền lực Nhà nước là ý trời, từ đấng tối cao. Người đứng đầu Nhà nước là hiện thân của thần thánh, của ông Trời. Ở một số quốc gia châu Á chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hoá Trung Hoa như: Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, … thì người đứng đầu còn được gọi là Thiên tử.
Các chiếu chỉ mà Vua ban xuống hay còn gọi là Thánh chỉ. Điều này có nghĩa Hoàng đế là con trời, phụng theo lệnh của trời mà ban hành nên chiếu chỉ. Do đó, người dân phải luôn tuân theo, phục tùng tuyệt đối cho dù các luật lệ mà Vua ban có ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân thì cũng không thể chống lại nó. Suốt hàng ngàn năm quyền lực của nhà Vua không bao giờ bị giới hạn bởi một quy định pháp luật nào, không có bất kỳ một rào cản nào được đặt ra.
Ở thời kỳ cận đại, khi giai cấp phong kiến bước vào giai đoạn suy tàn, xuất hiện thuyết khế ước xã hội, học thuyết chỉ ra rằng quyền lực Nhà nước không phải do Thượng đế mà có, quyền lực Nhà nước là do nhân dân trao cho. Theo học thuyết này: “Xã hội loài người khi mới hình thành tồn tại những sự hỗn loạn tự nhiên … Để thoát khỏi tình trạng đó con người cần phải thoả thuận với nhau để thiết lập ra Nhà nước nhằm đảm bảo trật tự xã hội”1. Cùng với đó là hàng loạt các cuộc Cách mạng tư sản bùng nổ trên thế giới, tiêu biểu có Cuộc Cách mạng Anh năm 1688 – 1689, hay còn được biết đến với tên gọi là Cách mạng vinh quang. Bấy giờ giai cấp tư sản đấu tranh nêu cao các khẩu hiệu tự do, dân chủ để lật đổ sự chuyên chế của giai cấp phong kiến.
Bằng nhiều cách thức đấu tranh khác nhau, quyền lực đã bị hạn chế đối với hoàng gia, thiết lập quyền tối 1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2009), Tập bài giảng Lý luận về Nhà nước, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 44, 45 6 cao cho Nghị viện, trao cho Nghị viện rất nhiều quyền lực khác nhau. Thời kỳ này được xem là thời kỳ vô cùng hoàng kim, vàng son của Nghị viện. Lúc này tồn tại lý thuyết “Nghị viện tối cao” hay “Tối thượng nghị viện”.
Theo đó, Nghị viện được coi như cơ quan quyền lực cao nhất, đứng trên tất cả mọi cơ quan, chủ thể khác. Trên thế giới và mạnh mẽ nhất là tại châu Âu suốt từ thế kỷ 17, thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 20 bị thống trị bởi lý thuyết Nghị viện tối cao. Địa vị của Nghị viện là tối thượng. Thậm chí, người Anh còn có một câu ngạn ngữ rất nổi tiếng: “Nghị viện Anh có thể làm mọi thứ trừ việc biến đàn ông thành đàn bà”2.
Có ba lý do để người dân tôn sùng Nghị viện nhiều đến như vậy. Thứ nhất, khi lật đổ chế độ phong kiến, Nghị viện chính là công cụ trong tay của giai cấp tư sản. Thứ hai, khi đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến tồn tại suốt hàng ngàn năm, khẩu hiệu mà giai cấp tư sản đặt ra chính là tự do, dân chủ, và chính Nghị viện là nơi biểu hiện sinh động nhất lý thuyết chủ quyền thuộc về nhân dân và giai cấp tư sản đã dùng làm đối trọng với lý thuyết thiên mệnh của giai cấp phong kiến. Nghị viện đã mang đến một Nhà nước kiểu mới đối lập hoàn toàn với Nhà nước “cha truyền con nối”.
Thứ ba, một nhà tư tưởng lỗi lạc ở cuối thế kỷ 18, Jean Jacques Rousseau đã dành rất nhiều ưu ái cho Nghị viện trong tác phẩm kinh điển Khế ước xã hội của ông.Rousseau đã khởi đầu tác phẩm nổi tiếng “Khế ước xã hội” bằng một luận đề: “Con người được sinh ra một cách tự do, nhưng khắp nơi lại bị xiềng xích”3. Cho thấy nguồn gốc quyền lực thuộc về nhân dân từ quyền lực Nhà nước. Như vậy vấn đề về giám sát Hiến pháp chưa xuất hiện trong giai đoạn này. Nghị Viện đóng vai trò như một nhà làm luật, ban hành ra luật lệ và hoàn toàn không có một rào cản, ranh giới nào được đặt ra.
Mục đích của việc ban hành nên pháp luật cơ bản nhằm thiết lập nên một hệ thống pháp luật quản lý đất nước, giải quyết các vấn đề phát sinh mà đất nước gặp phải. Ban đầu Nghị viện cần có thật nhiều quyền lực vì Nghị viện là công cụ giúp giai cấp tư sản đấu tranh với giới quý tộc, do đó Nghị viện phải thật sự mạnh mẽ. Nhưng rõ ràng khi Nghị viện đã thật sự đủ mạnh thì để ổn định và phát triển đất nước cần có một Chính phủ, một Thủ tướng mạnh. Do vậy, cần phải có sự giới hạn quyền lực của Nghị viện.
Ý thức của con người đã bắt đầu hướng tới chủ nghĩa tự do, xuất hiện các mong muốn mãnh liệt để bảo vệ quyền sống, quyền về tính mạng, tài sản, … thoát ly ra khỏi sự bó buộc, con người mong muốn có được nhân quyền 2 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2009), Tập bài giảng Lịch sử Nhà nước và Pháp luật thế giới, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.148 3 Nguyễn Đăng Dung, Trương Đắc Linh, Nguyễn Mạnh Hùng, Lưu Đức Quang, Nguyễn Minh Trí (2011), Xây dựng và bảo vệ Hiến pháp – Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội, tr. 40 7 thực thụ, chính đó là một trong các tư tưởng tiến bộ thời bấy giờ. Và nhắc đến những tư tưởng tiến bộ phải kể đến hai nhân vật nổi tiếng là Hans Kelsen4 và Charles de Gaulle5, vai trò của hai nhân vật này đã làm suy yếu lý thuyết Nghị viện tối cao và chấm dứt thời hoàng kim của Nghị viện ở châu Âu cũng như trên phạm vi của toàn thế giới. Bằng những quan điểm tiến bộ, hợp thời, Nghị viện được đưa trở về đúng vị trí mà nó nên có, đạo luật mà Nghị viện ban hành phải được xem xét sự phù hợp so với Hiến pháp.
Hiến pháp phải thật sự tối cao. Vì Hiến pháp không chỉ là đạo luật cơ bản mà còn là đạo luật mang tính chất chính trị. Và muốn Hiến pháp thật sự có tôn nghiêm, có tính tối thượng cần đặt ra vấn đề giám sát Hiến pháp. Tránh sự áp dụng tuỳ tiện, hạn chế tối đa việc cơ quan lập pháp ban hành đạo luật vi hiến.
Thậm chí kiểm soát cả hành vi của các nhà cầm quyền phải phù hợp Hiến pháp. Mặc dù mãi đến sau đầu thế kỷ thứ 20 mới chấm dứt giai đoạn thịnh vượng nhất của Nghị viện và quan điểm về Hiến pháp tối cao mới được phổ biến rộng khắp, cũng như sự xuất hiện dần dần các mô hình bảo vệ Hiến pháp, nhưng trong lịch sử, tư tưởng về giám sát Hiến pháp bắt đầu xuất hiện ở Anh vào thế kỷ thứ 17. Theo đó, Hội đồng Cơ mật có quyền tuyên bố văn bản do cơ quan lập pháp của các thuộc địa Anh ban hành trái với luật của Nghị viện Anh hay pháp luật chung, vì vậy văn bản đó không thể có hiệu lực và cần phải bị bãi bỏ6. Sau đó, vào năm 1787, tư tưởng giám sát Hiến pháp thời hiện đại được đề cập tại hội nghị Philadelphia ở Mỹ (Hợp chúng quốc Hoa Kỳ).
Hội nghị Philadelphia diễn ra đã thống nhất được rất nhiều vấn đề tại thời điểm bấy giờ ở Mỹ. Như việc phải xây dựng một chính quyền mạnh để ổn định trật tự xã hội nước Mỹ, liên kết chặt chẽ các bang với nhau, phân chia quyền lực giữa các nhánh quyền lực. Một điểm sáng tại hội nghị chính là đã đưa ra vấn đề về tài phán hiến pháp thông qua phát biểu của Jame Wilson. Theo Wilson, “Các thẩm phán là người giải thích luật nên phải có cơ hội bảo vệ các quyền Hiến định”7.
Mặc dù phát biểu của Wilson đối với tài phán Hiến pháp 4 Hans Kelsen (11/10/1881 – 19/04/1973) là một nhà luật học người Mỹ gốc Áo. Trong ngành luật thì ông được xem là cha đẻ của "lý thuyết thuần túy về luật pháp”. Ông cũng là người đã viết bản Hiến pháp năm 1920 của Áo. Một số tác phẩm nổi tiếng: General Theory of Law and State (1945) The Law of the United Nations (1950) Principles of International Law (1952, 2.
1966) 5 Charles de Gaulle (22/11/1890 – 9/11/1970) là chính khách nổi tiếng của Pháp. Ông cũng là Tổng thống lần thứ 18 của Cộng hoà Pháp nhiệm kì từ năm 1959 - 1969. Charles de Gaulle cũng chính là cha đẻ của bản Hiến pháp năm 1958 của Cộng hoà Pháp. Bản Hiến pháp đầu tiên trên thế giới được ban hành theo hình thức trưng cầu dân ý.
6 Đào Trí Úc – Võ Khánh Linh (chủ biên) (2003), Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực Nhà nước ở nước ta hiện nay, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội, tr. 556 7 Vũ Văn Nhiêm (chủ biên) (2013), Cơ chế giám sát Hiến pháp với việc bảo đảm quyền con người, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 12 8 chưa được thông qua, nhưng việc ra đời bản Hiến pháp Mỹ năm 1787 là bản Hiến pháp đầu tiên trên thế giới, không chỉ tạo nên bước ngoặt quan trọng trong lịch sử lập hiến thế giới mà còn căn nguyên trực tiếp của sự ra đời chế độ giám sát Hiến pháp8. Tư tưởng về giám sát Hiến pháp phải được chuyển hoá thành thực tiễn phải kể đến vụ kiện lịch sử ở Mỹ gắn liền với tên tuổi của vị chánh án John Marshall - Vụ Marbury kiện Madison.