Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH TỘI DANH 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại và ý nghĩa của định tội danh 1. Khái niệm định tội danh Định tội danh, là một trong các giai đoạn cơ bản của quá trình áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật, là một quá trình phức tạp được tiến hành qua nhiều giai đoạn khác nhau như: giải thích pháp luật, xác định hiệu lực pháp luật (cả về mặt không gian và thời gian), định tội danh, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự.
Còn định tội danh, là cách thức đưa các quy phạm pháp luật hình sự vào cuộc sống và còn là cơ sở cho việc áp dụng các quy phạm pháp khác của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm và đặc điểm định tội danh, cũng chưa được quy định trong luật hình sự, mà hiện còn có nhiều quan điểm dưới góc độ nghiên cứu của các chuyên gia pháp luật như: Quan điểm thứ nhất: Trong “Giáo trình luật hình sự Việt Nam” của PGS.TSKH Lê Cảm cho rằng: “Định tội danh là quá trình nhận thức lý luận có tính logic, là dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án hình sự để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định nhằm đạt được sự thật khách quan, tức là đưa ra sự đánh giá chính xác tội phạm về mặt pháp lý hình sự, làm tiền đề cho việc cá thể hóa và phân hóa trách nhiệm hình sự một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật” [9, tr 716]. Theo quan điểm trên, định tội danh trước tiên là quá trình nhận thức lý luận và phải mang tính logic. Điều đó có nghĩa là, khi tiến hành định tội danh phải tuân theo các quy luật nhận thức nhất định, là hoạt động thực tiễn áp 5 dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự.
Hoạt động này là do các chủ thể có thẩm quyền tiến hành theo quy định; được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu đã thu thập được; các tình tiết khách quan của vụ án hình sự được thu thập theo đúng quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Qua đó, để xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan. Quan điểm thứ hai: Trong “Giáo trình lý luận chung về định tội danh” của GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: “Định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [27, tr 4]. Theo quan điểm này, thì định tội danh là việc xác nhận và ghi nhận sự phù hợp giữa những trường hợp phạm tội cụ thể đang xem xét với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự (Phần các tội phạm trong BLHS), đó là việc đánh giá nhất định về mặt pháp lý đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Quan điểm này, chưa phản ánh được hoạt động định tội danh là một quá trình nhận thức mang tính logic, định tội danh phải dựa trên những cơ sở nào và nhằm mục đích gì. Quan điểm thứ ba: Trong “Giáo trình luật hình sự Việt Nam – quyển 2” của TS Phạm Văn Beo cho rằng: “Định tội danh là việc xác nhận về mặt pháp lý sự phù hợp giữa các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể đã được thực hiện với các yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng được quy định trong Bộ luật Hình sự” [1, tr 5]. Theo quan điểm này, thì định tội danh là việc xác định một hành vi gây nguy hiểm cho xã hội cụ thể, đã thực hiện và thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm cụ thể nào đó trong số các tội phạm được quy định trong BLHS. Quan điểm này, để định tội 6 danh cho một hành vi cụ thể, thì người áp dụng pháp luật hình sự phải căn cứ vào các cấu thành tội phạm được rút ra từ những quy định của BLHS.
Nếu một hành vi phạm tội phù hợp với các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS, thì hành vi đó được xác định theo tội danh của cấu thành tội phạm đó. Như vậy, 03 quan điểm trên đã đưa ra các khái niệm định tội danh là khác nhau. Trong đó, quan điểm thứ hai và quan điểm thứ ba chưa thể hiện được căn cứ của việc định tội danh được thực hiện trên cơ sở nào và cũng chưa phản ánh định tội danh đó là một quá trình nhận thức có tính logic. Theo tôi, quan điểm thứ nhất là đầy đủ và có cơ sở hơn, bởi các lý do sau: - Thứ nhất, định tội danh là quá trình nhận thức: Định tội danh là một hoạt động nhận thức, tư duy có tính logic và chặt chẽ; là một quá trình nhận thức từ những vấn đề đã biết để xác định những vấn đề chưa biết và quá trình đó dựa trên cơ sở sử dụng các phương pháp nhận thức như: quan sát, phân tích tổng hợp, so sánh và cùng các quy luật của logic học như: quy luật đồng nhất, quy luật mâu thuẫn… Quá trình nhận thức đó bao gồm: làm rõ sự thật khách quan, lựa chọn quy phạm pháp luật, đánh giá vụ án trên cơ sở khoa học pháp lý.
Quá trình này được hiểu là quy trình tố tụng hình sự và phải thực hiện các bước tiến hành tố tụng do pháp luật tố tụng hình sự quy định. - Thứ hai, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật, là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật: Định tội danh được hiểu là việc xác định bằng thủ tục hình sự, sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định (Cấu thành tội phạm có ý nghĩa, vai trò như thế nào với định tội danh sẽ được phân tích trong phần sau). Hoạt động định tội danh của người tiến hành tố tụng có những nét riệng biệt, đặc thù. Nó tùy thuộc vào chức năng tố tụng mà họ thực hiện như: Điều tra viên, trong giai đoạn điều tra vụ 7 án thì phạm vi định tội danh rất rộng; Kiểm sát viên, trong phạm vi hoạt động của Viện kiểm sát thì khá rộng, nhưng khi định tội danh vẫn bị giới hạn bởi những chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập trước đó có trong hồ sơ vụ án; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân có phạm vi hoạt động định tội danh hẹp hơn tất cả, vì chỉ được định tội danh đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội đã bị Viện kiểm sát truy tố và bởi giới hạn xét xử của pháp luật tố tụng hình sự.
- Thứ ba, định tội danh là sự đánh giá pháp lý hình sự đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội và phải do người có thẩm quyền xem xét. Xác định hành vi nguy hiểm đó được quy định tại điều khoản nào trong BLHS. Đây là kết quả của hoạt động áp dụng pháp luật, định tội danh là đánh giá pháp lý hình sự của một chủ thể đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trên thực tế có phải là tội phạm hay không. Nghĩa là, kết luận hành vi nguy hiểm đó là hành vi gì và được quy định tại điểm, khoản, điều nào trong BLHS.
Như vậy, có thể hiểu: Định tội danh, đó là một quá trình nhận thức mang tính logic, một dạng hoạt động của thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự được tiến hành bằng cách: trên cơ sở các chứng cứ, các tài liệu thu thập được, xác định sự phù hợp giữa hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương ứng do luật hình sự quy định, nhằm đạt được sự thật khách quan của vụ việc. Định tội danh là một quá trình gồm các bước sau: - Bước thứ nhất: Xác định các tình tiết thực tế của vụ án. Đó là quá trình xem xét, đánh giá tất cả các chứng cứ của vụ án để tìm ra sự thật khách quan và chỉ trên cơ sở những tình tiết khách quan đó, việc định tội danh mới được tiến hành. Việc thu thập các tình tiết của vụ án phải đảm bảo tính đầy đủ, tính toàn diện và tính liên quan đến vụ án.
Đồng thời, việc thu thập các 8 tình tiết khách quan đòi hỏi phải chính xác, trung thực, khách quan, khoa học và người có thẩm quyền để định tội danh phải giải thích được những mâu thuẫn giữa các chứng cứ có trong vụ án hình sự để làm sáng tỏ vụ việc. - Bước thứ hai: Phải có nhận thức đúng và đầy đủ các nội dung của các điều luật đã được quy định trong BLHS. Bước này đòi hỏi người định tội danh phải có sự hiểu biết và nhận thức đúng đắn, sâu sắc về các quy định của BLHS (kể cả Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể) cũng như những văn bản dưới luật có liên quan như Thông tư, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, án lệ, giải đáp và những hướng dẫn áp dụng pháp luật. Yêu cầu đặt ra đối với việc nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS là cần nắm vững quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm cụ thể, các cặp cấu thành tội phạm (viết tắt CTTP) có mối quan hệ đặc biệt.
Đồng thời, phải dự kiến tất cả các CTTP có thể là căn cứ pháp lý đối với hành vi phạm tội cụ thể. - Bước thứ ba: Xác định mối quan hệ giữa các dấu hiệu thực tế và các dấu hiệu được quy định trong luật. Theo trình tự từ bước thứ nhất, bước thứ hai, người có thẩm quyền để định tội danh sẽ xem xét, đối chiếu các tình tiết của vụ án với các dấu hiệu của CTTP cụ thể được quy định trong luật.