chương 1 cuốn sách đã phân tích để làm rõ “sức sống của khu vực tư nhân tự nó lớn lên, từ dưới lên mà không cần các chỉ thị từ trung ương nào, chẳng cần phải động viên, thuyết phục hay chỉ thị cho các đơn vị của khu vực tư nhân rằng chúng phải cư xử theo cơ chế thị trường”. Quan điểm của tác giả là phải tự do hóa khu vực tư nhân một cách thực sự và hoàn toàn, phải đưa nguyên lí khu vực kinh tế tư nhân có thể làm bất kể thứ gì trong hoạt động kinh tế, trừ những việc bị cấm vào luật. Tự do hóa khu vực tư nhân đòi hỏi nhiều nhân tố, trong đó liệt kê ra các thành phần quan trọng nhất: tự do lập xí nghiệp, tự do tham gia sản xuất, tự do đầu tư tiền vào doanh nghiệp tư nhân khác… [61, tr. 31,32] Đặc biệt, những nghiên cứu rất phù hợp với tập quán người Việt, đó là phải phát triển sự tôn trọng xã hội với khu vực tư nhân, đã đến lúc phải chấm dứt sự thóa mạ những người thành công trong kinh doanh là những kẻ đầu cơ, trục lợi, luồn lách… mặc dù đây không phải là vấn đề pháp lý nhưng là vấn đề hết sức quan trọng liên quan tới kinh tế - xã hội học, để thúc đẩy QTDKD, xóa đi những “dè chừng” khi gia nhập thị trường.
Tuy nhiên, cuốn sách đề cập chủ yếu tới tư duy cải cách kinh tế, trong đó có sự đóng góp của pháp luật thông qua các vai trò của nhà nước kiến tạo. Những vấn đề cuốn sách đặt ra liên quan tới một trong những lĩnh vực nghiên cứu của đề tài đó là thúc đẩy gia nhập thị trường kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân. (v) “Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Kinh tế hiện hành ở Việt Nam” của TS. Bùi Ngọc Cƣờng, NXB Chính trị Quốc gia 2004.
[32] 2 Đường về nô lệ của Friedrich von Hayek. Kế hoạch hóa tập trung nghiêm ngặt, quyền hành bao trùm tất cả của nhà nước, con đường xóa bỏ sở hữu tư nhân cũng sẽ làm nguy hại quyền tự do chính trị. 10 Đây là công trình nghiên cứu được đúc kết từ Luận án Tiến sĩ của chính tác giả, cũng như bài viết “Vai trò của pháp luật kinh tế trong việc đảm bảo QTDKD” trên Tạp chí khoa học pháp lý số 7/2002. Trong những công trình nghiên cứu này, tác giả tập trung giải quyết các vấn đề như: - Pháp luật kinh tế thể chế hóa những đòi hỏi của QTDKD và pháp luật kinh tế tạo ra những đảm bảo cho việc thực hiện QTDKD.
Để chứng minh, tác giả khẳng định pháp luật có vai trò đặc biệt với tự do kinh doanh vì nó biến nhu cầu kinh doanh thành một quyền pháp định hoặc hiến định. Thêm vào đó, tác giả khẳng định pháp luật kinh tế có vai trò tạo ra những đảm bảo cho việc tự do kinh doanh thông qua: Pháp luật kinh tế bảo vệ các hoạt động thúc đẩy tự do kinh doanh và đồng thời hạn chế các hoạt động cản trở, hạn chế tự do kinh doanh; Pháp luật kinh tế tạo ra cơ chế xử lý nhanh chóng các tranh chấp phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. - Tác giả đưa ra quan niệm về QTDKD theo nghĩa chủ quan, khách quan, cũng như nội dung của QTDKD bao gồm: Quyền được bảo đảm sở hữu đối với tài sản; Quyền tự do gia nhập thị trường (thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp); Quyền tự do hợp đồng; Quyền tự do cạnh tranh và quyền tự do định đoạt giải quyết tranh chấp. Trong những nghiên cứu của mình, tiến sĩ Bùi Ngọc Cường đã đồng thuận và chứng minh QTDKD là một trong những nội dung của quyền con người.
Tuy nhiên trong những nghiên cứu này, nội dung của QGNTT chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, chỉ đặt trong tổng thể QTDKD. Luận án tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về QGNTT. (vi) “Quyền sở hữu cá nhân - Cội nguồn của tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường” của tác giả PGS. Nguyễn Nhƣ Phát trong cuốn sách “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội” của Viện khoa học xã hội Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, năm 2009, Tr.
[46] Cuốn sách trên là công trình nghiên cứu của tập thể các tác giả Viện khoa học xã hội Việt Nam, trong đó có các bài viết như “Quyền tự do kinh doanh của công dân và nhà nước thuế” của tác giả Nguyễn Đức Minh, “Quyền con người và kinh tế thị trường” của tác giả Trần Đình Hảo… Trong Bài viết của PGS. Nguyễn Như Phát, ghi nhận quyền sở hữu cá nhân là tiền đề, là cội nguồn để thực thi các quyền tự do, dân chủ của con người trong kinh tế và để hình thành nên tư liệu sản xuất của con người - yếu tố chủ yếu trong thể chế thị trường. Theo tác giả để đảm bảo quyền con người, Nhà nước cần đối xử bình 11 đẳng và công bằng đối với sở hữu cá nhân. Vì vậy, trong quản lý nhà nước để đảm bảo quyền sở hữu cá nhân - cội nguồn của tự do kinh doanh - quyền con người cần tiếp thu những giá trị tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế và tập quán quốc tế.
Luận án kế thừa những kết quả nghiên cứu của tác giả về quyền sở hữu cá nhân - cội nguồn của QTDKD - quyền con người, và cũng là một thành tố cấu thành QTDKD, trong đó cũng bao gồm QGNTT. Các công trình nghiên cứu về thủ tục đăng ký gia nhập thị trƣờng và các rào cản liên quan (i) “Lessons from Investment Policy Reform in Korea”, Françoise Nicolas, Stephen Thomsen, Mi-Hyun Bang, OECD Working Papers on International Investment 2013/02. Từ một quốc gia nông nghiệp, kém phát triển trong thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chỉ sau hơn 30 năm, Hàn Quốc đã vươn lên trở thành một trong mười nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Mặc dù đã phát triển vượt bậc, nhưng khủng hoảng năm 1997 đã giúp Hàn Quốc nhận thức được các phương thức cũ trong điều hành bộ máy nhà nước đã trở nên lạc hậu trong giai đoạn mới và cần có những thay đổi cơ bản.
Hàn Quốc đã xây dựng Chương trình cải cách, tăng cường thúc đẩy cơ chế thị trường là trọng tâm, áp dụng công nghệ, cắt giảm hơn một nửa trong số hơn 11.000 giấy phép; sửa đổi hơn 2.400 giấy phép khác chỉ trong vòng 1 năm, đặc biệt là các giấy phép liên quan tới thủ tục gia nhập thị trường đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp. Công trình nghiên cứu kinh nghiệm của Hàn Quốc về cải cách thủ tục đăng ký gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Theo đó, Hàn Quốc đã thành lập ủy ban kiểm soát thủ tục hành chính, cũng như ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong đăng ký gia nhập thị trường. Đây là những gợi mở cho luận án đưa ra một số giải pháp hoàn chỉnh, phù hợp với thông lệ quốc tế về thủ tục gia nhập thị trường của Việt Nam.
(ii) “Cutting Red Tape Administrative Simplification in Viet Nam: Supporting the Competitiveness of the Vietnamese Economy”, OECD, 2011 (Báo cáo “Đơn giản thủ tục hành chính ở Việt Nam: Hỗ trợ năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam” do Tổ chức và Hợp tác và Phát triển Kinh tế phát hành năm 2011) [63] 12 Đây được coi là bản báo cáo có cái nhìn rất toàn diện về môi trường kinh doanh ở Việt Nam qua các đề án cải cách thủ tục hành chính như đề án 30 về đơn giản hóa thủ tục hành chính. Theo OECD, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, do đó cần phải nỗ lực cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường đầu tư, kinh doanh tạo điều kiện, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa, tăng cường có các cuộc đối thoại giữa Chính phủ và các doanh nghiệp trong và ngoài nước; cải thiện phương thức, thủ tục đăng ký gia nhập thị trường, rút ngắn thời gian, chi phí cho nhà đầu tư kinh doanh. Bản bản cáo chỉ ra rất rõ những ưu điểm và nhược điểm của môi trường kinh doanh, và đây có thể là những căn cứ giúp Việt Nam xây dựng, sửa đổi LDN năm 2014. (iii) “Law Reform in Vietnam: The Uneven Legacy of Doi Moi”, [68] Spencer Weber Waller, Loyola University Chicago & Lan Cao, Chapman University, International Law and Politics [Vol.
(“Cải cách pháp luật ở Việt Nam: Di sản không đồng đều của Đổi Mới” của Spencer Weber Waller, Đại học Chicago & Lan Cao, Đại học Chapman, tạp chí Chính trị và pháp luật thế giới [số 29] Công trình phân tích kết quả của cải cách xã hội chính trị và kinh tế Việt Nam thời kỳ “Đổi mới” do Đảng Cộng sản thực hiện năm 1986. Các “lực lượng” thị trường đã được phép hoạt động tại Việt Nam dưới sự giám sát của nhà nước. Kết quả của cải cách này cho thấy miền nam Việt Nam đã thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài hơn miền bắc Việt Nam, và phần lớn vốn nước ngoài đã chảy vào các khu vực đô thị. Tuy nhiên, ngay cả khi có sự phát triển, cơ sở hạ tầng pháp lý và cơ sở hạ tầng khác vẫn không đủ để duy trì các nhu cầu của một nền kinh tế thị trường phức tạp.
Hơn nữa, tự do hóa chính trị không theo cùng một mức độ của tự do kinh tế. Trong Phần I của bài nghiên cứu, các tác giả cung cấp một bản phác thảo chung trong việc cải cách pháp luật của hệ thống pháp luật chuyển đổi của Việt Nam (transitional legal systems). Trong các phần còn lại, Waller và Lan Cao nghiên cứu về các vấn đề của hệ thống luật và giáo dục pháp luật ở Việt Nam sau Đổi mới và nhận xét rằng cải cách pháp lý đã không theo kịp với cải cách kinh tế ở Việt Nam. Nghiên cứu đã cho thấy những hạn chế của tư duy trong cải cách pháp lý tại Việt Nam, ví dụ Hiến pháp năm 1992 mới thừa nhận QTDKD của người dân, trong khi việc đổi mới đã bắt đầu từ 1986.
13 Tuy nhiên, công trình nghiên cứu được viết vào năm 1996, khi hai tác giả cùng với ba đồng nghiệp, đã đến Việt Nam theo lời mời của Bộ Giáo dục Việt Nam. Do đó, nghiên cứu trên cho thấy phần nào tư duy cải cách kinh tế - pháp lý tại Việt Nam giai đoạn đầu khi thừa nhận kinh tế tư nhân, kinh tế thị trường và QTDKD.