Tổng quan nghiên cứu

Thị trường bất động sản và hoạt động tín dụng thương mại tại Việt Nam ghi nhận sự phát triển vượt bậc với hơn 65% các dự án nhà ở thương mại tại các đô thị lớn áp dụng cơ chế huy động vốn thông qua tài sản hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, theo ước tính từ các cơ quan xét xử, khoảng 80% các vụ việc tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán nhà ở giai đoạn 2006-2012 xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong khung khổ pháp lý điều chỉnh loại tài sản đặc thù này.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là sự bất cập, xung đột và khoảng trống pháp lý khi điều chỉnh các giao dịch dân sự đối với tài sản hình thành trong tương lai theo Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Nhà ở năm 2005 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006. Các chủ thể tham gia thị trường, đặc biệt là người mua nhà và các tổ chức tín dụng, liên tục đối mặt với rủi ro mất quyền sở hữu hoặc vô hiệu hợp đồng do các kẽ hở pháp lý.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung vào 3 nhiệm vụ chính: thứ nhất, hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về tài sản hình thành trong tương lai; thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật và nhận diện các tranh chấp điển hình trong hoạt động mua bán, chuyển nhượng hợp đồng và thế chấp; thứ ba, đề xuất các kiến nghị sửa đổi quy định pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Phạm vi nghiên cứu bao quát hệ thống pháp luật Việt Nam từ sau khi Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực đến năm 2012, đối chiếu thực tiễn thi hành tại 2 trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm chuẩn hóa trần huy động vốn 70%, hạn chế tối đa nguy cơ chiếm dụng vốn và góp phần giảm thiểu tranh chấp dân sự trên thị trường bất động sản.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên 2 nền tảng lý thuyết cốt lõi: lý thuyết quyền tài sản trong luật dân sự hiện đại và lý thuyết bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Khái niệm tài sản đã có bước chuyển biến mang tính bước ngoặt khi Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 mở rộng cấu trúc tài sản thành 4 dạng thức cơ bản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, thay thế cho khái niệm vật có thực bị giới hạn tại Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 1995.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng mô hình quản lý rủi ro giao dịch tài sản tương lai từ kinh nghiệm lập pháp của Cộng hòa Pháp theo Điều 2130 và Điều 2133 Bộ luật Dân sự Pháp, cho phép thế chấp tài sản mua trong tương lai theo tiến độ giải ngân và công trình mới bắt đầu triển khai. Khung nghiên cứu tập trung làm rõ 4 khái niệm pháp lý chủ chốt:

Thứ nhất, tài sản hình thành trong tương lai theo quy định tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP, bao gồm tài sản hình thành từ vốn vay, tài sản đang trong giai đoạn tạo lập hợp pháp và tài sản đã hình thành nhưng chưa hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu.

Thứ hai, hợp đồng mua bán nhà ở theo hình thức ứng tiền trước quy định tại Điều 39 Luật Nhà ở năm 2005 và Điều 14 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006.

Thứ ba, hợp đồng góp vốn phân chia sản phẩm nhà ở theo Nghị định số 71/2010/NĐ-CP và Thông tư số 16/2010/TT-BXD.

Thứ tư, thế chấp quyền tài sản và quyền đòi nợ hình thành trong tương lai phục vụ hoạt động bảo đảm tín dụng ngân hàng.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp khảo cứu đa dạng với cỡ mẫu nghiên cứu gồm 45 văn bản quy phạm pháp luật (gồm các bộ luật, luật, nghị định của Chính phủ và thông tư hướng dẫn của các bộ ngành) cùng 30 hồ sơ vụ việc, tranh chấp thực tế phát sinh tại địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn lọc các điển hình tranh chấp về huy động vốn trái phép, lách luật ký quỹ và vướng mắc thuế chuyển nhượng.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập có hệ thống từ các báo cáo tổng kết thi hành pháp luật dân sự, tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Tòa án, Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật từ năm 2005 đến tháng 5 năm 2012.

Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh luật học và phương pháp thống kê xã hội học được lựa chọn đồng bộ. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm bóc tách chính xác những điểm mâu thuẫn giữa các văn bản luật chuyên ngành, đồng thời lượng hóa mức độ rủi ro thực tế mà các bên phải gánh chịu trong giao lưu dân sự. Toàn bộ quá trình tổng hợp dữ liệu và đánh giá thực tiễn được hoàn thành trong mốc thời gian từ đầu năm 2011 đến giữa năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng pháp lý đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng mang tính thực tiễn cao:

Thứ nhất, tồn tại sự mâu thuẫn trực tiếp giữa Điều 39 Luật Nhà ở năm 2005 và Điều 14 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 hướng dẫn bởi Điều 4 Nghị định số 153/2007/NĐ-CP. Trong khi Luật Nhà ở bắt buộc công trình phải xây dựng xong phần móng và giới hạn mức thu trước tối đa 70% giá trị hợp đồng, thì Luật Kinh doanh bất động sản lại cho phép chủ đầu tư huy động tiền ứng trước ngay khi bắt đầu triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Khoảng 60% chủ đầu tư trên thị trường đã tận dụng sự thiếu nhất quán này để huy động vốn sớm, gây mất an toàn dòng tiền của người mua.

Thứ hai, cơ chế huy động vốn thông qua hợp đồng góp vốn phân chia sản phẩm nhà ở bị ràng buộc bởi tỷ lệ trần 20% tổng số lượng nhà ở của dự án theo Điều 9 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP và Thông tư số 16/2010/TT-BXD. Mỗi hộ gia đình hoặc cá nhân chỉ được phân chia 1 sản phẩm trong phạm vi một tỉnh, thành phố. Tuy nhiên, quy định lại thiếu điều khoản hướng dẫn khi bên góp vốn mất năng lực hành vi dân sự hoặc không thể tiếp tục góp tiền, dẫn đến tình trạng danh sách xác nhận tại Sở Xây dựng bị đóng băng.

Thứ ba, chính sách thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở bộc lộ sự bất hợp lý nghiêm trọng. Căn cứ Thông tư số 161/2009/TT-BTC và Thông tư số 113/2011/TT-BTC, cá nhân nộp thuế theo thuế suất 25% trên thu nhập chịu thuế hoặc 2% trên tổng giá trị chuyển nhượng. Việc cơ quan thuế thu 2% tính trên toàn bộ giá trị hợp đồng (bao gồm cả phần vốn chưa nộp cho chủ đầu tư) khiến số thuế phải nộp thực tế bị đội lên từ 15% đến 30% so với lợi nhuận ròng, tạo gánh nặng bất hợp lý cho người dân.

Thứ tư, hoạt động công chứng và thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai đối mặt với rủi ro pháp lý cao do Điều 5 Luật Công chứng năm 2006 yêu cầu đối tượng giao dịch phải có thật. Khoảng 40% hợp đồng thế chấp phát sinh vướng mắc khi xử lý tài sản bảo đảm do tài sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ tư duy quản trị hành chính chưa bắt kịp tốc độ phát triển của thị trường bất động sản. Sự phân mảnh giữa cơ quan quản lý nhà ở và cơ quan quản lý thị trường tài chính khiến các quy định bị chồng chéo.

Khi so sánh với chuẩn mực lập pháp của Cộng hòa Pháp, việc công nhận giao dịch tài sản tương lai phải đi đôi với cơ chế bảo lãnh ngân hàng bắt buộc và giám sát tiến độ nghiệm thu độc lập. Trong khi đó, tại Việt Nam, sự thiếu vắng các quy chuẩn kỹ thuật nghiệm thu phần móng theo Công văn số 65/BXD-QLN ngày 10/11/2007 đã tạo điều kiện cho các hiện tượng biến tướng.

Thực tế ghi nhận nhiều vụ việc điển hình như dự án khu căn hộ Sky Garden III áp dụng hình thức ký quỹ tiền thành ý nhằm thu tiền khách hàng trước khi xong móng, hay dự án khu căn hộ Phú Xuân tại huyện Nhà Bè thu 30 triệu đồng tiền giữ chỗ cho mỗi căn hộ khi chưa hoàn tất thiết kế và chưa có giấy phép xây dựng. Các dữ liệu bất cập này có thể được mô tả trực quan qua bảng đối chiếu xung đột quy phạm giữa 2 đạo luật chủ chốt, đồng thời thể hiện qua biểu đồ phân bổ dòng vốn nhằm làm rõ sự cần thiết phải kiểm soát trần ứng trước 70% và trần phân chia 20%.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao nhằm hoàn thiện khung pháp lý:

Thứ nhất, chuẩn hóa điều kiện ứng tiền trước và bắt buộc áp dụng cơ chế tài khoản ký quỹ. Cần sửa đổi Luật Kinh doanh bất động sản theo hướng thống nhất tuyệt đối với Luật Nhà ở về tiêu chí kỹ thuật xây dựng xong phần móng. Đồng thời, bổ sung quy định yêu cầu chủ đầu tư mở tài khoản phong tỏa tại ngân hàng thương mại, duy trì tỷ lệ ký quỹ bảo đảm từ 15% đến 20% tổng mức đầu tư dự án nhằm bảo vệ quyền lợi người mua khi dự án chậm bàn giao. Thời gian thực hiện: giai đoạn 2013-2014. Chủ thể thực hiện: Bộ Xây dựng phối hợp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Thứ hai, mở rộng và pháp điển hóa các kênh huy động vốn hợp pháp. Cho phép doanh nghiệp bất động sản huy động vốn thông qua hình thức vay vốn có cam kết quyền ưu đãi mua nhà từ cá nhân, thay vì chỉ giới hạn trong 5 hình thức cứng nhắc tại Điều 9 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP. Cần nâng tỷ lệ phân chia sản phẩm nhà ở linh hoạt từ mức 20% hiện tại lên 30% đối với các dự án đã giải phóng xong 100% mặt bằng sạch. Thời gian thực hiện: hoàn thành trong năm 2014. Chủ thể thực hiện: Chính phủ và Bộ Xây dựng.

Thứ ba, cải cách cơ chế tính thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng hợp đồng. Sửa đổi nội dung tại Thông tư số 113/2011/TT-BTC theo hướng chỉ thu thuế 2% trên giá trị phần vốn thực tế đã nộp cho chủ đầu tư, loại trừ phần nghĩa vụ tài chính chưa thanh toán. Thiết lập hướng dẫn chi tiết về việc khấu trừ chi phí lãi vay ngân hàng khi áp dụng thuế suất 25%. Thời gian thực hiện: quý 3 năm 2013. Chủ thể thực hiện: Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế.

Thứ tư, hoàn thiện quy định thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm. Sửa đổi Luật Công chứng để phân định rõ trách nhiệm công chứng viên đối với tài sản tương lai, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục xác nhận tại Sở Xây dựng từ 20 ngày làm việc xuống còn 10 ngày làm việc thông qua ứng dụng dữ liệu điện tử liên thông. Thời gian thực hiện: 2013-2015. Chủ thể thực hiện: Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

Thứ nhất, cơ quan soạn thảo chính sách và quản lý nhà nước như Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để rà soát, sửa đổi Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản và các thông tư hướng dẫn thuế thu nhập cá nhân.

Thứ tư, các tổ chức tín dụng và ngân hàng thương mại. Cán bộ quản trị rủi ro và cán bộ thẩm định tín dụng có thể áp dụng các tiêu chí trong luận văn để thiết lập quy trình nhận thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, kiểm soát rủi ro dòng vốn cho vay đối với các dự án có tỷ lệ ứng vốn 70%.

Thứ ba, doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh bất động sản. Các chủ đầu tư nắm vững quy trình pháp lý chuẩn mực, thực hiện đúng nghĩa vụ thông báo Sở Xây dựng trước 15 ngày làm việc và quản trị hạn mức 20% khi ký kết hợp đồng góp vốn phân chia căn hộ.

Thứ tư, đội ngũ luật sư, công chứng viên và người mua nhà. Người mua nhà có thể nhận diện các rủi ro pháp lý khi tham gia ký quỹ giữ chỗ, đồng thời áp dụng chính xác các bước công chứng văn bản chuyển nhượng hợp đồng theo mẫu quy định tại Thông tư số 16/2010/TT-BXD để bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

Câu hỏi thường gặp

Chủ đầu tư cần đáp ứng những điều kiện gì để được ký hợp đồng mua bán nhà ở ứng tiền trước?

Chủ đầu tư phải có thiết kế kỹ thuật được phê duyệt, thi công xây dựng xong phần móng có biên bản nghiệm thu, hoàn thành thủ tục giao dịch qua sàn bất động sản và gửi thông báo bằng văn bản cho Sở Xây dựng trước ít nhất 15 ngày tính đến ngày ký hợp đồng huy động vốn.

Hạn mức phân chia sản phẩm nhà ở thông qua hợp đồng góp vốn được quy định tối đa bao nhiêu?

Chủ đầu tư chỉ được phân chia tối đa không quá 20% tổng số lượng nhà ở của dự án cấp 1 hoặc dự án độc lập. Mỗi hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn một tỉnh chỉ được tham gia góp vốn nhận phân chia sản phẩm 1 lần với số lượng 1 nhà ở.

Thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai được áp dụng như thế nào?

Người chuyển nhượng nộp thuế theo mức 25% tính trên thu nhập chịu thuế khi có đầy đủ chứng từ chứng minh giá vốn và chi phí hợp lý. Trường hợp không xác định được giá vốn, cơ quan thuế áp dụng thu 2% trên tổng giá trị chuyển nhượng ghi trong hợp đồng.

Doanh nghiệp bất động sản được phân chia nhà ở từ hợp đồng góp vốn khi bán lại phải làm thủ tục gì?

Doanh nghiệp bắt buộc phải ký hợp đồng mua bán nhà ở với chủ đầu tư dự án theo khoản 2 Điều 60 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP, sau đó thực hiện bán lại bắt buộc thông qua sàn giao dịch bất động sản theo đúng trình tự luật định.

Thời hạn để Sở Xây dựng xác nhận danh sách phân chia nhà ở là bao lâu?

Thời hạn tối đa là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị hợp lệ của chủ đầu tư. Nếu phát hiện danh sách vượt quá tỷ lệ 20%, trong vòng 7 ngày làm việc, Sở Xây dựng phải có văn bản yêu cầu chủ đầu tư điều chỉnh lại danh sách.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu với 5 kết quả đóng góp chủ yếu:

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh lý luận về tài sản hình thành trong tương lai và mở rộng phạm vi điều chỉnh trong Bộ luật Dân sự.
  • Phát hiện và phân tích sâu sắc các điểm xung đột giữa Luật Nhà ở năm 2005 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006 về điều kiện huy động vốn.
  • Đánh giá toàn diện các rủi ro thực tế trong hoạt động chuyển nhượng hợp đồng, thế chấp quyền đòi nợ và nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân 2% và 25%.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ, trong đó nhấn mạnh cơ chế tài khoản ký quỹ 15-20% và mở rộng tỷ lệ góp vốn phân chia sản phẩm.
  • Kiến nghị quy trình giám sát liên ngành và nâng cao trách nhiệm giải trình của các chủ thể tham gia thị trường.

Về lộ trình tiếp theo, các kết quả nghiên cứu cần tiếp tục được theo dõi, cập nhật trong giai đoạn sửa đổi toàn diện Bộ luật Dân sự, Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản. Các cơ quan quản lý, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp cần tham khảo các luận cứ từ công trình để chuẩn hóa quy trình giao dịch, bảo đảm môi trường kinh doanh minh bạch và an toàn pháp lý.