Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sở hữu chung của vợ chồng là một chế định pháp lý quan trọng trong quan hệ hôn nhân và gia đình, phản ánh sự gắn kết về mặt tình cảm lẫn trách nhiệm kinh tế giữa các bên trong quá trình xây dựng đời sống gia đình. Tại Việt Nam, chế độ sở hữu chung của vợ chồng được điều chỉnh trực tiếp bởi Bộ luật Dân sự và Luật Hôn nhân và Gia đình. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các giao dịch dân sự và tranh chấp tài sản, việc xác định tài sản chung và tài sản riêng vẫn còn nhiều điểm thiếu chính xác. Điều này dẫn đến sự gia tăng các vụ việc kiện tụng phức tạp, gây thiệt hại về tài sản và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ hôn nhân.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể như sau:

  1. Làm sáng tỏ về mặt lý luận những nội dung cơ bản về sở hữu chung của vợ chồng theo quy định của pháp luật hiện hành, trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  2. Đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về sở hữu chung của vợ chồng dựa trên các vụ việc xảy ra trong thực tế xét xử.
  3. Xác định những bất cập, vướng mắc còn tồn đọng trong hệ thống quy định và quá trình thực thi, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện quyền sở hữu chung của vợ chồng tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng liên quan đến sở hữu chung của vợ chồng (bao gồm khái niệm, nội dung, căn cứ xác lập, thực hiện và chấm dứt quyền sở hữu chung). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cùng các văn bản liên quan (như Luật Đất đai) từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực cho đến nay, kết hợp đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia (Cộng hòa Pháp, Thái Lan, Trung Quốc).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và lý luận khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Khung lý thuyết và văn bản pháp luật sử dụng: Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 158 về quyền sở hữu; các Điều từ 207 đến 220 về sở hữu chung; Điều 661 về hạn chế phân chia di sản); Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 (Điều 3, 16, 29, 33, 34, 35, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 46, 59, 66, 67); Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; Luật Đất đai năm 2013; Hiến pháp năm 2013 (Điều 53, 54); cùng các văn bản pháp luật nước ngoài như Bộ luật Dân sự Đức (Điều 903), Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp (Đạo luật số 65-570), Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan (Điều 1465, 1474, 1484, 1488), và Luật Hôn nhân năm 1980 của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Điều 13, 17, 18, 19).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phân tích các điều luật, khái niệm khoa học pháp lý để làm rõ bản chất quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.
    • Phương pháp đánh giá, điều tra, khảo sát thực tiễn: Tổng hợp số liệu xét xử và phân tích các bản án thực tế nhằm phát hiện những bất cập trong áp dụng luật.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các mô hình điều chỉnh chế độ tài sản vợ chồng giữa Việt Nam với Pháp, Thái Lan và Trung Quốc để chỉ ra nét đặc thù phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam.
  • Nguồn dữ liệu: Số liệu thống kê chính thức từ Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn từ ngày 01/01/2019 đến 01/01/2024; các bản án sơ thẩm, phúc thẩm của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng (Hà Nội), Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc (tỉnh Vĩnh Phúc); các công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thùy Linh (2012), Trương Thị Lan (2016), TS. Phùng Trung Tập (2011).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sở hữu chung của vợ chồng

Chương 1 làm rõ các phạm trù lý luận cơ bản về quyền sở hữu và sở hữu chung. Theo Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt. Về mặt khoa học pháp lý, quyền sở hữu được xem xét ở góc độ khách quan (hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu) và góc độ chủ quan (quyền năng dân sự tuyệt đối của chủ thể đối với tài sản cụ thể).

Bộ luật Dân sự năm 2015 phân loại sở hữu chung thành 3 hình thức:

  • Sở hữu chung hợp nhất: Phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung (Khoản 1 Điều 210). Sở hữu chung của vợ chồng là hình thức điển hình của sở hữu chung hợp nhất (Điều 213).
  • Sở hữu chung theo phần: Phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung (Điều 209).
  • Sở hữu chung hỗn hợp: Sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn sản xuất, kinh doanh (Điều 215).

Tác giả phân tích 3 đặc điểm bản chất của sở hữu chung vợ chồng:

  1. Vợ chồng có quyền ngang nhau trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, thực hiện theo nguyên tắc đồng thuận.
  2. Việc chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản chung phải được ủy quyền hoặc cho phép của bên còn lại (đặc biệt đối với bất động sản, động sản phải đăng ký và tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình).
  3. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia được khi hôn nhân còn tồn tại, khi một bên chết hoặc khi ly hôn.

Phần nghiên cứu pháp luật quốc tế được tổng hợp qua bảng so sánh:

Quốc gia Chế độ tài sản áp dụng Căn cứ và đặc điểm xác lập tài sản chung
Cộng hòa Pháp (BLDS Pháp - Đạo luật 65-570) Kết hợp chế độ thỏa thuận (hôn ước) và chế độ pháp định (cộng đồng tạo sản áp dụng khi không có thỏa thuận riêng). Tài sản chung gồm thu nhập từ công việc làm ăn, hoa lợi/lợi tức từ tài sản riêng (Điều 1401). Áp dụng nguyên tắc suy đoán: mọi tài sản đều là của chung nếu không chứng minh được là tài sản riêng (Điều 1402).
Thái Lan (BL Dân sự và Thương mại) Chế độ tài sản pháp định được áp dụng nếu vợ chồng không lập hôn ước trước khi kết hôn (Điều 1465). Thành phần tài sản chung gồm tài sản tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, tặng cho/thừa kế chung bằng văn bản, hoa lợi từ tài sản riêng, tài sản không chứng minh được là riêng (Điều 1474). Quy định cụ thể các trường hợp chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân (Điều 1484, 1488, 1401, 1598).
Trung Quốc (Luật Hôn nhân năm 1980) Chế độ tài sản pháp định là căn cứ chủ đạo; tôn trọng thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng (Điều 19). Chế độ cộng đồng tạo sản (Điều 13, 17): Lương, thưởng, lợi nhuận sản xuất kinh doanh, lợi nhuận từ quyền sở hữu trí tuệ, thừa kế/hiến tặng chung... Quy định cụ thể 5 trường hợp tài sản riêng tại Điều 18.

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về sở hữu chung vợ chồng

Chương 2 phân tích quá trình tiến triển lập pháp từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 (mọi tài sản trước và sau cưới đều là của chung, không thừa nhận tài sản riêng), qua các luật năm 1986, 2000, đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Nội dung quy định hiện hành bao gồm các điểm trọng tâm:

  • Căn cứ xác lập tài sản chung (Điều 33 Luật HN&GĐ 2014):
    • Thu nhập hợp pháp trong thời kỳ hôn nhân: Tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Bao gồm thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng; tiền thưởng, trúng thưởng xổ số, trợ cấp, tài sản xác lập quyền sở hữu theo BLDS đối với vật vô chủ, bị chôn giấu, chìm đắm, đánh rơi, vật nuôi thất lạc (Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP). Điểm b Khoản 2 Điều 59 quy định nguyên tắc quan trọng: lao động của vợ/chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.
    • Quyền sử dụng đất (QSDĐ): QSDĐ có được sau khi kết hôn là tài sản chung, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc giao dịch bằng tài sản riêng.
    • Tặng cho chung, thừa kế chung: Vợ chồng chỉ được thừa kế chung thông qua di chúc chỉ định rõ cả hai người; không có thừa kế chung theo pháp luật từ cha mẹ của một bên.
    • Nhập tài sản riêng vào tài sản chung (Điều 46): Thực hiện theo thỏa thuận; tài sản phải tuân thủ hình thức luật định thì thỏa thuận phải bảo đảm hình thức đó.
    • Nguyên tắc suy đoán tài sản chung (Khoản 3 Điều 33): Tài sản đang có tranh chấp mà không có chứng cứ chứng minh là tài sản riêng thì được xác định là tài sản chung.
    • Đăng ký tài sản (Điều 34): Giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
  • Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung:
    • Vợ chồng bình đẳng trong chiếm hữu, sử dụng, định đoạt (Điều 29). Định đoạt bất động sản, động sản phải đăng ký hoặc tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu phải có thỏa thuận bằng văn bản (Điều 35).
    • Nghĩa vụ chung về tài sản (Điều 37): Gồm nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch cùng xác lập, và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà hai người cùng chịu trách nhiệm.
  • Phân chia tài sản chung:
    • Trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38, 39, 40, 41, 42): Thỏa thuận bằng văn bản công chứng; quy định rõ các trường hợp việc phân chia bị vô hiệu nhằm trốn tránh nghĩa vụ; xác định rõ thời điểm có hiệu lực và hậu quả pháp lý.
    • Khi một bên chết hoặc bị tuyên bố là đã chết (Điều 66, 67 Luật HN&GĐ 2014; Điều 661 BLDS 2015): Chia đôi khối tài sản chung, phần của người chết được chia thừa kế; người còn sống có quyền yêu cầu hạn chế phân chia di sản trong thời hạn không quá 03 năm (được gia hạn một lần không quá 03 năm) nếu việc chia ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống.
    • Khi ly hôn (Điều 59): Về nguyên tắc chia đôi nhưng xem xét 4 yếu tố: hoàn cảnh gia đình/vợ chồng; công sức đóng góp (công việc nội trợ coi như lao động có thu nhập); bảo vệ lợi ích chính đáng trong sản xuất kinh doanh; lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng. Điểm mới tiến bộ của Luật năm 2014 so với Luật năm 2000 là đưa yếu tố lỗi của mỗi bên vào căn cứ phân chia.
    • Trường hợp chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn (Điều 16): Giải quyết theo thỏa thuận; nếu không có thỏa thuận thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự và luật liên quan, bảo đảm quyền lợi của phụ nữ và con.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện quy định về sở hữu chung của vợ chồng

Chương 3 dẫn chứng số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao: Từ ngày 01/01/2019 đến 01/01/2024, Tòa án nhân dân các cấp đã thụ lý 917.308 vụ việc thuộc các lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, hành chính, lao động. Trong đó, số vụ việc về hôn nhân và gia đình chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu thụ lý và có xu hướng gia tăng về mức độ phức tạp cũng như giá trị tài sản tranh chấp.

Tác giả phân tích thực tiễn xét xử qua các vụ án cụ thể để chỉ ra 3 nhóm vướng mắc lớn:

  1. Tài sản riêng đưa vào sử dụng chung nhưng chưa làm thủ tục nhập tài sản:
    • Vụ án Nguyễn Thu Lan và Trần Huân Dũng (TAND quận Hai Bà Trưng và TAND TP. Hà Nội): Căn nhà 40,02 m² tại khu tập thể Viện 108 (39 Trần Khánh Dư) có nguồn gốc mẹ ông Dũng tặng cho riêng năm 1982. Hai vợ chồng sử dụng chung hơn 30 năm và chi 74.000.000 đồng sửa chữa lại toàn bộ. Tòa án cả hai cấp đều tuyên căn nhà là tài sản riêng của ông Dũng, chỉ buộc ông Dũng trả lại cho bà Lan 3/5 chi phí sửa chữa (44.400.000 đồng) và quyền lưu cư 12 tháng. Tác giả nhận định phán quyết này áp dụng đúng câu chữ của luật nhưng chưa bảo đảm tính công bằng và thực tế sử dụng chung dài hạn.
    • Vụ án Nguyễn Văn N và Phạm Thu B: 640 m² đất thổ cư được giao cho ông N trước kết hôn, cấp giấy chứng nhận sau kết hôn 2 tháng; hai vợ chồng xây nhà 48 m² trên đất. Tòa sơ thẩm chia đôi 640 m², nhưng Tòa phúc thẩm sửa án, chỉ công nhận 48 m² đất có nhà là tài sản chung, 592 m² còn lại là tài sản riêng của ông N.
  2. Chế độ tài sản trong thời gian vợ chồng sống ly thân:
    • Vụ án Văn Hồng Quảng và Nguyễn Thị Phương (TAND huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc): Kết hôn năm 1968, mâu thuẫn sống ly thân từ năm 2000. Tranh chấp số tiền gửi tiết kiệm 225.000.000 đồng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Yên Lạc (ông Quảng đứng tên gửi từ tiền làm ăn chung với bà Nguyệt - người chung sống như vợ chồng từ 2001). Tòa án bác yêu cầu chia của bà Phương vì cho rằng tiền gửi trong thời gian ly thân. Khóa luận chỉ ra rằng phán quyết này chưa phù hợp với luật hiện hành vì Luật Hôn nhân và Gia đình không có chế định ly thân; về nguyên tắc thời gian ly thân vẫn thuộc thời kỳ hôn nhân nên tài sản tạo ra vẫn là tài sản chung.
  3. Xác định công sức đóng góp của các bên đối với khối tài sản chung:
    • Tòa án thiếu tiêu chí định lượng cụ thể, việc phân chia chủ yếu mang tính định tính. Điển hình trong vụ án giữa ông N và bà B, đối với mảnh đất 265,24 m² nhận chuyển nhượng từ ông M: Tòa sơ thẩm chia bà B 60% vì có thu nhập kinh doanh cao hơn, nhưng Tòa phúc thẩm sửa thành 50/50 do không có chứng cứ chứng minh bà B dùng tiền riêng đóng góp. Tương tự là vụ án giữa bà Nguyễn Thị Trường và ông Nhâm tranh chấp thửa đất số 319 (diện tích 561 m²).

Từ các vướng mắc trên, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật:

  • Hoàn thiện căn cứ xác định sở hữu chung của vợ chồng (mục 3.2.1).
  • Hoàn thiện quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (mục 3.2.2).
  • Hoàn thiện nguyên tắc giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn (mục 3.2.3).

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả chính: Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng; làm rõ các căn cứ xác lập theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Công trình phân tích số liệu thực tiễn 917.308 vụ việc thụ lý tại Tòa án các cấp (2019-2024), mổ xẻ các vụ án cụ thể tại Hà Nội và Vĩnh Phúc để chứng minh sự bất cập giữa quy định pháp luật và thực tế đời sống.
  • Giải pháp và kiến nghị: Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về việc xử lý tài sản riêng đưa vào sử dụng chung thời gian dài; xây dựng tiêu chí định lượng hóa công sức đóng góp của vợ chồng; và bổ sung hướng dẫn pháp lý xử lý tài sản phát sinh trong giai đoạn ly thân thực tế.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khắc phục hạn chế của các công trình trước đây (Nguyễn Thùy Linh năm 2012, Trương Thị Lan năm 2016, TS. Phùng Trung Tập năm 2011) vốn chủ yếu nghiên cứu khung pháp luật trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực hoặc chỉ tập trung vào chia tài sản sau ly hôn. Khóa luận này tiếp cận chuyên sâu và cập nhật theo cả hai đạo luật hiện hành.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát án văn thực tiễn tập trung chủ yếu vào một số địa bàn cụ thể (TAND TP. Hà Nội, TAND quận Hai Bà Trưng, TAND huyện Yên Lạc thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) nên chưa bao quát toàn bộ thực tiễn xét xử tại các vùng miền khác trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng trong doanh nghiệp và đầu tư kinh doanh thương mại; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch với vợ hoặc chồng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, Luật Dân sự và Hôn nhân - Gia đình, cũng như các luật sư, thẩm phán trong quá trình nghiên cứu và giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình. Các nội dung có giá trị tham khảo cao gồm:

  • Bảng phân tích so sánh chế độ tài sản vợ chồng giữa pháp luật Việt Nam với Cộng hòa Pháp, Thái Lan và Trung Quốc tại Chương 1.
  • Hệ thống hóa các căn cứ xác lập tài sản chung và các trường hợp phân chia tài sản theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 tại Chương 2.
  • Các phân tích thực tiễn xét xử và trích dẫn bản án thực tế minh họa cho các vướng mắc về tài sản riêng đưa vào sử dụng chung, tài sản trong thời gian ly thân tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định tại Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, những loại tài sản chung nào bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng khi định đoạt?
Theo Khoản 2 Điều 35, việc định đoạt tài sản chung phải có thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong 3 trường hợp: (a) Bất động sản; (b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu; (c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.

2. Điểm mới quan trọng nhất về nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 so với Luật năm 2000 là gì?
Khoản 2 Điều 59 Luật năm 2014 đã bổ sung căn cứ "Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng" vào nguyên tắc phân chia tài sản chung khi ly hôn, điều mà Khoản 2 Điều 95 Luật năm 2000 hoàn toàn không quy định. Bên cạnh đó, luật mới tiếp tục khẳng định lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.

3. Vợ chồng có thể cùng được thừa kế chung tài sản của cha mẹ theo diện thừa kế theo pháp luật không?
Không. Theo quy định pháp luật về thừa kế, vợ chồng không cùng hàng thừa kế của cha mẹ một bên nên không thể thừa kế chung theo pháp luật. Vợ chồng chỉ được thừa kế chung khi người để lại di sản lập di chúc chỉ định rõ cả hai vợ chồng cùng là người thừa kế chung phần di sản đó mà không phân định phần của từng người.

4. Trong vụ án tranh chấp căn nhà tại tập thể Viện 108 (Hà Nội) nêu trong khóa luận, Tòa án đã phán quyết như thế nào đối với tài sản riêng đưa vào sử dụng chung hơn 30 năm?
Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm đều công nhận căn nhà 40,02 m² là tài sản riêng của người chồng (ông Dũng) do được mẹ tặng cho riêng năm 1982. Tòa án xác định người vợ (bà Lan) có công sức đóng góp sửa chữa nên buộc ông Dũng hoàn trả 3/5 chi phí sửa nhà tương đương 44.400.000 đồng và cho bà Lan quyền lưu cư tại phòng thứ 3 trong thời hạn 12 tháng.

5. Pháp luật hiện hành điều chỉnh tài sản do một bên tạo ra trong thời gian hai vợ chồng sống ly thân như thế nào?
Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành không có chế định ly thân. Do đó, thời gian ly thân vẫn được tính là thời kỳ hôn nhân. Mọi tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời gian ly thân (trừ trường hợp được tặng cho riêng, thừa kế riêng hoặc có thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân) về mặt nguyên tắc pháp lý vẫn thuộc khối tài sản chung của vợ chồng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Đoàn Minh Hoàng đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về chế độ sở hữu chung của vợ chồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Qua việc phân tích dữ liệu xét xử thực tế giai đoạn 2019-2024 và các bản án điển hình, công trình chỉ rõ những bất cập trong việc phân định tài sản riêng đưa vào sử dụng chung, tài sản phát sinh trong giai đoạn ly thân và cơ chế định lượng công sức đóng góp. Những giải pháp hoàn thiện được đề xuất trong khóa luận góp phần bảo đảm quyền lợi bình đẳng giữa vợ chồng, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp dân sự và củng cố sự bền vững của quan hệ gia đình.