Chương 1: Khái quát chung về thé chấp tài sản dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Chương 2: Những yếu t6 cơ bản của hợp đồng thé chấp tài sản hình thành trong tương lai. Chương 3: Thực tiễn thế chấp tài sản hình thành trong tương lai hiện nay và nguyên nhân của các bất cập. Chương 4: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật CHUONG 1: KHAI QUAT CHUNG VE THE CHAP TAI SAN DE DAM BAO THUC HIEN NGHIA VU DAN SU 1.
Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của biện pháp thé chap dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự 1. Khái niệm biện pháp thé chấp Trong điều kiện nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển mạnh cùng với những chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, các giao lưu dân sự được xem như một công cụ giúp cho các chủ thể tìm kiếm được lợi ích của mình. Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự trước tiên là dựa vào sự tự giác của các bên, nhưng trong thực tế không phải bất cứ ai khi tham gia giao dịch đều tự giác thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình. Nhằm tạo cho các bên có quyền trong quan hệ dân sự có được thé chủ động trong việc hưởng các quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên chủ thể trong quan hệ dân sự có thé thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp đồng cũng như bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ dân sự.
Trong số các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, thế chấp được lựa chọn làm biện pháp bảo đảm của hầu hết các giao dịch dân sự, đặc biệt là trong các quan hệ tín dụng và nó đã từng được tôn vinh là “nữ hoàng” của các biện pháp bao đảm [8, tr. Điều 346 BLDS năm 1995 đưa ra khái niệm về biện pháp thế chap như sau: “Thế chấp tài sản là việc bên có nghĩa vụ dùng tài sản là bat động sản thuộc sở hữu của mình đề bảo đảm thực hiện nghĩa vu đối với bên có quyên ”.Sau hơn mười năm áp dụng, BLDS năm 2005 được ban hành thay thế BLDS năm 1995, trong đó các quy định về thế chấp cũng được sửa đổi. Điều 342 BLDS năm 2005 quy định: “Thé chấp tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thé chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia (sau đây gọi là bên nhận thé chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thé chap”. Có thể thấy quy định của BLDS năm 2005 có sự khác biệt cơ bản so với quy định của BLDS năm 1995.
Đối tượng của thé chấp tai sản theo quy định của BLDS năm 1995 là bất động sản, còn theo quy định của BLDS năm 2005 thì đối tượng của thé chấp là động sản hoặc bat động sản, ngoài ra biện pháp bảo đảm này còn được nhận diện bởi đặc điểm không có sự chuyên giao tài sản thế chấp. Như vậy, biện pháp thé chấp được hiểu là sự thỏa thuận của các bên, theo đó bên thế chấp cam kết dùng tài sản của mình thông qua việc chuyển giao toàn bộ hồ sơ pháp lý của tài sản cho bên nhận thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mà không phải chuyển giao bản thân tài sản thé chap. Đặc điểm của biện pháp thé chấp - Biện pháp thé chấp được phát sinh trên cơ sở một quan hệ nghĩa vụ đã tôn tại trước đó và nhằm mục đích bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ do: Biện pháp thế chấp tài sản không tồn tại độc lập mà phụ thuộc và gắn liền với nghĩa vụ chính mà nó bảo đảm, thể hiện ở chỗ khi có quan hệ nghĩa vụ chính thì các bên mới thỏa thuận thiết lập biện pháp thé chấp tài sản. Nó thúc day người có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính phải thực hiện nghĩa vụ chính, bởi nếu người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì tài sản thế chấp sẽ bị xử lý theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
- Biện pháp thé chấp mang tinh bảo dam doi vật: Điều này thê hiện ở việc bên nhận thé chấp có quyên chi phối tai sản thé chấp trong thời gian thực hiện nghĩa vụ và có quyên xử lý tài sản đó để khấu trừ nghĩa vụ khi có hành vi vi phạm xảy ra. Quyền lợi của bên nhận thé chấp được bảo đảm bởi | tài sản cu thé chứ không phụ thuộc vào hành vi thực hiện nghĩa vu của bên thế chấp. Tuy nhiên, tính chất bảo đảm đối vật trong biện pháp thế chấp không phải là tính chất bảo đảm tuyệt đối. Quyền lợi của bên nhận thế chấp còn phụ thuộc vào hành vi giữ gìn, bảo quản tài sản thế chấp, phụ thuộc vào hành vi chuyên giao tài sản để xử lý của bên thế chấp.
Nếu bên thế chấp vi phạm nghĩa vụ đó thì bên nhận thế chấp sẽ trở thành bên nhận thế chấp không có bảo đảm và quan hệ bảo đảm chuyền từ tính chất đối vật sang quan hệ bảo đảm có tinh chât đôi nhân. - Trong quan hệ thế chấp, không có sự chuyển giao tài sản thế chấp: Khác với biện pháp cầm có tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, tài sản cam cô được chuyên giao cho người nhận cầm có, trong quan hệ thé chấp, bên thế chấp không phải chuyên giao tài sản cho bên nhận thế chấp mà chỉ phải giao cho bên nhận thế chấp những giấy tờ chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản thế chấp. Các giấy tờ chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản thé chấp có thể kế đến như: giấy đăng ký quyền sở hữu tai sản ( ô tô, xe máy, tàu biển, máy bay.), giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các giấy tờ khác như hợp đồng mua bán hàng hóa có kèm theo hóa đơn, hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai kèm theo dự án đã được phê duyệt về ngôi nhà, giấy tờ thừa kế nhà đất.Tuy nhiên, bên thế chấp phải giao cho bên nhận thé chấp bản gốc của các giấy tờ nêu trên. Mặc dù bên nhận thế chấp không trực tiếp giữ các tài sản mà chỉ giữ các giấy tờ pháp ly của tài sản, nhưng cũng vẫn có cơ sở dé bảo đảm quyền lợi của bên nhận thé chấp, bởi vì bên thế chấp khó có thé thực hiện quyền định đoạt của chủ sở hữu đối với tài sản thế chấp nếu không có các giấy tờ hợp pháp chứng minh tình trạng pháp lý của tài sản thế chấp.
- Biện pháp bảo đảm nói chung và biện pháp thế chấp nói riêng có tính chất dự phòng và được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ: tính chất dự phòng thể hiện ở việc chỉ khi nào đến hạn mà người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của ho thì mới được xử lý tai sản bảo đảm. Khi có sự vi phạm nghĩa vụ tài sản bảo đảm được đưa ra xử lý theo thỏa thuận của các bên nếu sự thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật. Nếu các bên không có thỏa thuận thì tài sản được xử lý theo quy định của pháp luật. “Do tính chất dự phòng nên tài sản bảo đảm có thể không cần phải được hình thành vào thời điểm xác lập nghĩa vụ bảo đảm, chỉ cần có các yếu tố dé xác định chính xác nó chắc chắn sẽ hình thành và định giá được vào thời điểm phải xử tài sản bảo đảm” [8, tr.
Ý nghĩa của biện pháp thế chấp Biện pháp thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có ý nghĩa đối với cả hai bên, bên có quyền và bên có nghĩa vụ, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự. Đối với bên nhận thé chap, do không trực tiếp giữ tài sản nên bên nhận thé chap không phải quản lý tài san thế chấp, không mắt chi phí cho việc duy trì tài sản đó, đồng thời có quyền ưu tiên thanh toán so với các chủ thê khác không có bảo đảm từ việc xử lý tài sản thế chấp. Đối với người có nghĩa vụ thì biện pháp thế chấp là một sự lựa chọn đúng đắn, nhất là trong lĩnh vực kinh doanh cần phải sử dụng nhiều vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặc dù đã thế chấp tài sản nhưng bên thé chap vẫn được giữ tài sản thé chap và có thể khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức, có thể cho thuê hoặc bán tài sản thế chấp nếu tài sản thế chấp là tai sản luân chuyên trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Không những thé, người thé chấp có thé dùng một tài sản dé thé chấp cho nhiều nghĩa vụ khác nhau nếu tông các nghĩa vụ không lớn hơn giá trị tài san thé chấp. 10 Ngoài ra, biện pháp thế chấp cũng có ý nghĩa góp phan tao sự 6n định cho nền kinh tế, chính trị, xã hội trong giai đoạn hiện nay. Chế định thế chấp tạo sự an toàn, hiệu quả, thuận lợi cho các giao lưu dân sự, thúc day kinh té pháp trién, thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Thế chap có tac dụng ngăn ngừa sự vi phạm nghĩa vụ của các bên trong quan hệ dan sự, thúc day các bên thực hiện cam kết của mình một cách thiện chí, trung thực, góp phần nâng các ý thức trách nhiệm của các bên trong việc bảo đảm lợi ích của mình và của người khác.
Từ đó bảo đảm cho các giao dịch dân sự diễn ra ôn định, hạn chế các tranh chấp phat sinh trong giao lưu dân sự, tạo điều kiện thúc đây sản xuất, kinh doanh phát triển, nâng cao đời sống nhân dân. Khái niệm tài sản hình thành trong tương lai Khái niệm tài sản lần đầu tiên được quy định trong BLDS năm 1995, theo đó tại Điều 172 BLDS năm 1995 quy định “Tài sản bao gom vật có thực, tiễn, giấy tờ trị giá được bang tiên và các quyên tài sản”. Tiếp đó, Điều 163 BLDS năm 2005 (Bộ luật dân sự hiện hành) quy định: “Tai sản bao gom vật, tiễn, giấy tờ có gid và các quyền tài sản”. Khái niệm tài sản theo BLDS năm 2005 đã mở rộng hơn BLDS năm 1995 về những đối tượng nào được coi là tài sản, theo đó, không chỉ những “vật có thực” mới được gọi là tài sản mà cả những vật được hình thành trong tương lai cũng được gọi là tài sản [25].