CHƯƠNG 1. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO DICH DAN SU VO HIEU DO LUA DOI 1. Lý thuyết chung về giao dịch dân sự vô hiệu 1. Khai niệm giao dich dân sự vô hiệu Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Giao dich dân sự không được pháp luật thừa nhận do không thỏa mãn một trong những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định.
Khi giao dịch bị tuyên bố vô hiệu, quyển và nghĩa vụ của các chủ thể trong giao dịch sẽ không được đảm bảo thực hiện, các bên hoàn trả cho nhau những gi đã nhận [8,tr 6]. Theo Từ điển Luật học: “Giao dich dân sự không có hiệu lực do không có một trong những điều kiện được pháp luật quy định [5,tr 259]. Như vay, theo cách hiểu này nếu không đáp ứng được các điều kiện dé giao dich dân sự có hiệu lực thi giao dich sẽ bị vô hiệu. Cách xác định nay cũng đồng nhất với phần lớn các nhà lập pháp trên thế giới, họ không đưa ra khái niệm mà di sâu vào quy định các tiêu chí đê xác định một giao dịch vô hiệu.
Bộ luật Dân sự Đức cho đến nay không có quy định nào tập hợp về điều kiện có hiệu lực của hành vi pháp lý. Tuy nhiên khi nói về hành vi pháp lý vô hiệu, trong một cuốn sách nồi tiếng về luật dân sự Đức từ năm 1907, Ernest J. Schuster cho rằng luật dân sự Đức quan niệm: Căn cứ dé xem một hành vi pháp lý là vô hiệu hoặc có thể vô hiệu phụ thuộc vào một trong ba loại sau: (1) sự thiếu năng lực của một trong các bên; (2) khuyết tật hay hà tì hay tì 6 của sự biểu lộ ý chí (như: không tuân thủ hình thức qui định; sự thiếu nhất quán giữa ý chí thực và ý chí biểu lộ; tính bat hợp pháp của hành vi hay giao dịch dự kiến); và (3) hoàn cảnh bên ngoai (như: lừa dối; đe dọa). Ở các nước thuộc Họ Pháp luật Anh- Mỹ thường thiếu bóng dáng của một hoạt động pháp điển hoá tổng quát, nên các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng nhiều khi được trừu tượng hoá bởi các luật gia trong lĩnh vực lý thuyết.
Ở mỗi nước thuộc họ pháp luật này trong một chừng mực nhất định, tuỳ theo từng tác giả, nói về các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng khác nhau phần nào. Đối với pháp luật Hoa Kỳ, các tác giả A. James Barnes, Terry Morehead Dworkin, va Eric L. Richards cho rang có năm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng: (1) Sự thỏa thuận; (2) Có sự hỗ trợ bởi nghĩa vụ đối ứng (consideration); (3) Giao kết một cách tự nguyện; (4) Các bên có năng lực giao kết hợp đồng: (5) Hành vi hợp pháp.
Trong khi đó họ lại cho rằng có bốn nguyên nhân làm cho hợp đồng vô hiệu, bao gồm: thứ nhất, thiếu năng lực; thứ hai, thiếu ưng thuận tự nguyện (voluntary consent); thứ ba, bat hợp pháp; thứ tư, thiếu hình thức văn bản mà đã được luật yêu cầu40. Có một số tác giả khác viết về pháp luật Hoa Kỳ lại quan niệm hợp đồng có bốn điều kiện chủ yếu: (i) năng lực của các bên; (ii) cùng nhau ưng thuận; (iii) nghĩa vụ đối ứng; và (iv) hợp pháp [31, tr 71-77]. Các Bộ luật Dân sự của Việt Nam trước đây xây dựng theo mô hình Pháp ghi nhận bốn điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, đó là: vé sự ưng thuận; về năng lực; về đối tượng; và nguyên nhân. Còn theo pháp luật hiện hành, Điều 117 BLDS 2015 ghi nhận bốn điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực bao gồm: (1) Chủ thé có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; (2) chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; (3) mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cắm của luật, không trái đạo đức xã hội; và (4) đáp ứng các đòi hỏi về hình thức, nếu pháp luật có quy định.
Bộ luật Dân sự 2015 đã lồng ghép nguyên tắc bảo vệ trật tự công và đạo đức xã hội và năng lực xác lập hành vi pháp lý vào cùng với các điều kiện biểu lộ ý chí để tạo lập nên các điều kiện có hiệu lực của hành vi pháp lý. Tuy nhiên có trường hợp ngoại lệ: trừ trường hợp BLDS này có quy định khác (Điều 122 BLDS 2015). Do đó khi nghiên cứu về vấn đề vô hiệu hóa hành vi pháp lý không chỉ tập trung hoàn toàn vào các điều kiện có hiệu lực quy định tại Điều 117 nói trên. Có những trường hợp Bộ luật Dân sự 2015 quy định riêng về điều kiện có hiệu lực và sự vô hiệu, chẳng hạn: Điều 408, khoản 1, Bộ luật này quy định “7rường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này vô hiệu.
” Như vậy thì giao dịch dân sự vô hiệu có thể hiểu là giao dịch không có hiệu lực pháp lý. Mặc dù một giao dịch dân sự đã được xác lập, các bên có thé dang thực hiện hoặc đã thực hiện xong các quyền, nghĩa cụ như đã cam kết nhưng khi xác định giao dịch đó không đủ điều kiện có hiệu lực hoặc vi phạm điều kiện có hiệu lực thì giao dịch đó xác định là vô hiệu, mọi cam kết trước đó của các chủ thé đều không được pháp luật bảo vệ. Các nhà làm luật trên thế giới đều dựa vào điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự để từ đó xác định giao dịch vô hiệu. Các điều kiện này dựa vào tính chất của giao dịch, đặc điểm của giao dịch, lịch sử, tình hình kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Đặc điểm của giao dịch dân sự vô hiệu Thứ nhất, không đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định của pháp luật đối với giao dịch dân sự có hiệu lực. Điều kiện ở đây là những yêu cầu pháp lý bảo đảm tính hợp pháp, công bằng và chính xác cần thiết trong một giao dịch. Tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự sẽ giúp bảo cân bằng, đảm quyền lợi, nghĩa vụ của các chủ thé tham gia giao dịch, bảo vệ trật tự xã hội, quyền lợi của các bên tham gia trong giao dịch. Mỗi hệ thống pháp luật sẽ đưa ra những điều kiện khác nhau cho một giao dịch dân sự nhưng về cơ bản có điêu kiện sau: Mục đích và nội dung của giao dịch không đáp ứng đầy đủ yêu cầu của pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của giao dịch dân sự là tự do ý chí. Các chủ thể tham gia giao dịch được tự thể hiện ý chí, định đoạt nội dung và hình thức giao dịch tuy nhiên phải trong khuôn khổ không vi phạm điều cam phát luật, không vi phạm đạo đức xã hội. Điều cấm của pháp luật được Bộ luật Dân sự Việt Nam định nghĩa là những quy điều luật không cho phép thực hiện. Đạo đức xã hội cũng là một phạm trù rộng và tiêu chuẩn cộng đồng luôn là một tiêu chí để xác định.
Bộ luật Dân sự 2015 định nghĩa: "Đạo đức xã hội là chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng." (Điều123, đoạn 3) Chủ thé tham gia giao dịch không tự nguyện cũng là một nguyên nhân khiến giao dịch dân sự vô hiệu. Sự khiếm khuyết trong ý chí của chủ thể như: lừa dối, nhằm lẫn, cưỡng ép, đe dọa.đều là những nguyên nhân phổ biến trên thực tế gây vô hiệu hợp đồng Trong một số trường hợp pháp luật đòi hỏi hành vi pháp lý phải tuân thủ một hình thức nhất định vì những lý do khác nhau liên quan tới chủ thé, đối tượng. Ví dụ: Liên quan tới di chúc, BLDS 2015 quy định về hình thức của di chúc và giá tri pháp lý của từng hình thức từ Điều 627 cho tới Điều 639 nhiều vấn đề về hình thức của di chúc vẫn được đặt ra khiến cho giao dịch pháp lý này có thé bi vô hiệu. Tuy nhiên, hiện có nhiều ý kiền về việc liệu hình thức có nên coi là điều kiện xác định giao dịch vô hiệu hay không.
Có ý kiến cho rằng việc đánh giá hiệu lực của giao dịch chỉ nên dựa vào ý chí chủ thể, nỗ lực thực hiện cam kết, tư duy đạo đức của các chủ thể tham gia giao dịch. Đây cũng là một ý kiến mới và cần được cân nhắc, thực tế có nhiều giao dịch dân sự tuân thủ tất các cả điều kiện của giao dịch dân sự nhưng hình thức chưa đảm bảo nên bị vô hiệu, đi ngược lại ý chí của các bên. Thứ hai, các bên tham giao giao dịch phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định. Bởi thời điểm giao dịch bị tuyên vô hiệu, thông thường các chủ thê đã thực hiện một phần hoặc toàn bộ giao dịch.
Đề đưa các bên về lại trạng thái như chưa có giao dịch, các bên bắt buộc lại thực hiện một số hành động nhất định như hoàn trả, bồi thường thiệt hại để đảm bảo quyền lợi các bên. Đây là vấn về khó xử lý nhất trên thực tế. Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu “Hậu quả” được hiểu là những kết quả không hay mà một người phải chấp nhận [20, tr. Day là trách nhiệm pháp lý, sự trừng phạt bất lợi mà chủ thê vi phạm phải gánh chịu về tài sản, lợi ích vật chất, nằm ngoài ý chí và mong muốn của chủ thể.
Những hậu quả này có thể xem là một chế tài áp dụng đối với những giao dịch dân sự vi phạm các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định 10 Về hiệu lực pháp lý của giao dịch dân sự, giao dịch bị tuyên vô hiệu, có nghĩa là bị hủy bỏ, xem như chưa bao giờ tồn tại. Hậu quả là các bên trong quan hệ liên quan quay về trạng thái ban đầu như khi họ chưa bao giờ giao kết một hợp đồng như vậy. Hầu hết, các nền tài phán trên thế giới đều thống nhất với nguyên tắc xử lý hậu quả này. BLDS CHND Trung Hoa 2020 quy định một đạo luật dân sự bị vô hiệu hoặc bi thu hồi không có bat kỳ hiệu lực pháp lý nào.