Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Giao dịch dân sự là phương thức pháp lý cơ bản xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể. Trong thực tế đời sống pháp lý, nhằm đạt được các lợi ích không chính đáng hoặc che giấu các mục đích phi pháp, nhiều chủ thể đã tạo lập các giao dịch mang vỏ bọc hợp pháp nhưng không phản ánh đúng ý chí đích thực. Theo báo cáo tổng kết hàng năm của ngành Tòa án tại Việt Nam, có hàng nghìn giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo được đưa ra giải quyết. Loại giao dịch này làm biến dạng bản chất tự nguyện của quan hệ dân sự, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và đe dọa trực tiếp đến an toàn pháp lý của các giao lưu dân sự.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Quỳnh Hương (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:

    • Xây dựng hệ thống khung lý luận nền tảng về giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo và hậu quả pháp lý của loại giao dịch này.
    • Phân tích thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành (trọng tâm là Bộ luật Dân sự năm 2015) và thực tiễn xét xử, chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong việc phát hiện và xử lý giao dịch giả tạo.
    • Đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong việc xử lý giao dịch giả tạo và giải quyết hậu quả pháp lý phát sinh.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    • Rà soát, hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, phân loại giao dịch dân sự giả tạo và giao dịch dân sự vô hiệu.
    • Phân tích chuyên sâu các điều khoản liên quan trong Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật chuyên ngành.
    • Đánh giá thực tiễn áp dụng thông qua các vụ việc cụ thể tại Tòa án nhân dân, nhận diện những khó khăn của cơ quan công chứng và cơ quan xét xử.
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo cùng hậu quả pháp lý tại Việt Nam.
    • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, nghiên cứu tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam (có đối chiếu có chọn lọc với pháp luật một số quốc gia). Về thời gian, văn bản luật, số liệu và các bản án thực tiễn được khảo sát từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành cho đến thời điểm thực hiện khóa luận (2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận về Nhà nước và Pháp luật, quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ quyền công dân và duy trì trật tự pháp luật dân sự.

Hệ thống văn bản pháp luật và mô hình lý thuyết áp dụng

  • Hệ thống pháp luật trong nước: Bộ luật Dân sự năm 2015 (trọng tâm là Điều 117 về điều kiện có hiệu lực, Điều 119 về hình thức, Điều 122 về giao dịch vô hiệu, Điều 124 về giao dịch vô hiệu do giả tạo, Điều 131 về hậu quả pháp lý, Điều 132 về thời hiệu yêu cầu, Điều 180 về chiếm hữu ngay tình, Điều 275 về căn cứ phát sinh nghĩa vụ, Điều 408 về hợp đồng vô hiệu do đối tượng không thể thực hiện được); Bộ luật Dân sự năm 1995; Bộ luật Dân sự năm 2005; Luật Thương mại năm 2005.
  • Pháp luật quốc tế và so sánh: Quy định về hành vi pháp lý và hợp đồng trong Bộ luật Dân sự Pháp; chế định hợp đồng tại Quyển III Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020; nguyên tắc hợp đồng giả tạo trong Luật Giao dịch dân sự năm 2023 của Ả Rập Xê Út; Điều 129 Luật Liên bang số (5) năm 1985 (sửa đổi năm 1987) về Luật Giao dịch dân sự của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).
  • Khái niệm học thuật nòng cốt: Giao dịch dân sự giả tạo (fictitious civil transaction), giao dịch bị che giấu, giao dịch vô hiệu tuyệt đối, giao dịch vô hiệu tương đối, giao dịch tưởng tượng, chiếm hữu ngay tình, hoa lợi và lợi tức.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích sự phát triển của chế định giao dịch giả tạo qua các thời kỳ lập pháp (1995, 2005, 2015).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật để giải nghĩa nội dung các điều khoản luật thực định.
  • Phương pháp so sánh luật học nhằm đối chiếu giải pháp lập pháp của Việt Nam với các hệ thống pháp luật nước ngoài.
  • Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) và phân tích án văn thực tiễn để đánh giá quy trình xét xử và nhận diện vướng mắc.

Nguồn dữ liệu

Nguồn tài liệu nghiên cứu bao gồm: các sách bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của PGS.TS. Nguyễn Minh Tuấn, PGS.TS. Đỗ Văn Đại; các luận án tiến sĩ (Nguyễn Văn Cường, 2005); các luận văn thạc sĩ luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Vũ Thị Thanh Nga, 2011; Trần Thị Nguyên, 2021; Phạm Thị Bảo Anh, 2021; Phùng Khánh Phương, 2012; Nguyễn Hải Yến, 2021; Tô Thị Hòa, 2017...); các bài viết trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Báo Kiểm sát; và nguồn bản án công khai từ Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao (điển hình là Bản án sơ thẩm số 68/2019/DS-ST của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo và hậu quả pháp lý

Chương 1 xây dựng khái niệm, bản chất pháp lý và các đặc trưng nhận diện của giao dịch dân sự giả tạo, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa giao dịch giả tạo và hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu:

  • Khái niệm: Giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương được xác lập không đúng với ý chí thực sự của các chủ thể, không nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên mà nhằm mục đích che giấu một giao dịch dân sự khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
  • Năm đặc điểm cơ bản:
    1. Không phản ánh ý chí đích thực: Có sự bất nhất giữa mong muốn bên trong và sự biểu hiện ý chí ra bên ngoài.
    2. Có sự thông đồng, câu kết từ trước: Thường có sự bàn bạc, thống nhất giữa các bên (hoặc xuất phát từ sự dàn dựng đơn phương).
    3. Mục đích xác lập bất hợp pháp: Nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba (hoặc đồng thời cả hai).
    4. Cấu trúc giao dịch đặc thù: Tồn tại song song hai giao dịch (giao dịch giả tạo công khai và giao dịch bị che giấu có thật) hoặc một giao dịch đơn nhất được dàn dựng để tẩu tán tài sản.
    5. Tính chất vô hiệu tuyệt đối: Giao dịch giả tạo bị vô hiệu ngay từ thời điểm xác lập, không phụ thuộc vào việc Tòa án có ra quyết định tuyên bố hay không.
Tiêu chí phân loại Loại giao dịch Bản chất và ví dụ minh họa
Theo mục đích xác lập Che giấu giao dịch khác Tồn tại song song 02 giao dịch; ví dụ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để che giấu hợp đồng vay tài sản.
Trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba Dàn dựng chuyển dịch tài sản nhằm không còn tài sản thi hành án hoặc trả nợ; ví dụ tặng cho nhà đất cho người thân để tránh nghĩa vụ trả nợ.
Theo ý chí chủ thể Theo sự thỏa thuận các bên Các bên cùng bàn bạc, thống nhất tạo giao dịch giả tạo (ví dụ lập hợp đồng mua bán nhà đất giá thấp hơn thực tế để giảm thuế).
Do ý chí một bên (GDDS tưởng tượng) Một bên tự thêu dệt nên một giao dịch không có thật để vụ lợi cá nhân (ví dụ khai khống khoản nợ chung nhằm chiếm đoạt tài sản khi ly hôn).
  • Điều kiện có hiệu lực và thời hiệu: Tác giả phân tích 4 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (năng lực chủ thể, tự nguyện, nội dung/mục đích không vi phạm điều cấm/đạo đức xã hội, hình thức bắt buộc nếu luật định). Giao dịch giả tạo vi phạm nghiêm trọng yếu tố tự nguyện và sự thống nhất ý chí. Do thuộc nhóm vô hiệu tuyệt đối, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu là không bị hạn chế theo quy định của pháp luật dân sự.

Chương 2: Quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo và hậu quả pháp lý

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá hoạt động áp dụng pháp luật thông qua án văn thực tế:

  • Phân tích Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015:

    • Khoản 1 (Che giấu giao dịch khác): Giao dịch giả tạo vô hiệu toàn bộ kể từ khi xác lập. Giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực pháp luật nếu đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực chung tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và quy định của luật chuyên ngành liên quan (tương đồng với nguyên tắc tại Luật Giao dịch dân sự năm 2023 của Ả Rập Xê Út).
    • Khoản 2 (Trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba): Giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ tài chính hoặc thi hành án dân sự bị vô hiệu. Ba điều kiện nhận diện gồm: (i) Nghĩa vụ đã đến hạn hoặc sắp đến hạn thực hiện; (ii) Người có nghĩa vụ không còn tài sản nào khác ngoài tài sản định đoạt; (iii) Hành vi định đoạt làm cho người có nghĩa vụ không còn đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ.
  • Năm hệ quả pháp lý theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015:

    1. Giao dịch không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.
    2. Các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận bằng hiện vật; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.
    3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức phát sinh từ đối tượng giao dịch (Khoản 3 Điều 131).
    4. Bên có lỗi gây thiệt hại trong quá trình xác lập giao dịch vô hiệu phải bồi thường thiệt hại (Khoản 4 Điều 131).
    5. Giải quyết các hậu quả pháp lý liên quan đến quyền nhân thân theo quy định pháp luật chuyên biệt (Khoản 5 Điều 131).
  • Phân tích thực tiễn xét xử qua vụ án điển hình: Khóa luận khảo sát Bản án sơ thẩm số 68/2019/DS-ST ngày 31/07/2019 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là ông Trần Văn Ch (sinh năm 1985) và bị đơn là bà Trần Thị Th cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Thanh H:

    • Tình tiết vụ việc: Ngày 17/4/2017, ông Ch cho bà Th và ông H vay 100.000.000 đồng. Để bảo đảm khoản vay, cùng ngày, bà Th (nhận ủy quyền từ mẹ là bà Nguyễn Thị N) đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 183m² tại huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ cho ông Ch có công chứng. Bà Th đã thanh toán 10.000.000 đồng nợ gốc và lãi vài tháng đầu. Quá trình thực hiện, bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị thất lạc do có việc mượn lại qua người làm chứng (ông Đỗ Văn S). Ông Ch khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và đòi lại 90.000.000 đồng nợ gốc còn lại (không tính lãi).
    • Phán quyết của Tòa án: Tòa án xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giao dịch giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền nên bị vô hiệu theo Khoản 1 Điều 124 BLDS 2015. Hợp đồng vay tài sản bị che giấu có đầy đủ điều kiện hiệu lực theo Điều 117 BLDS 2015 nên được công nhận có hiệu lực. Tòa án buộc bà Th và ông H liên đới hoàn trả 90.000.000 đồng nợ gốc cho ông Ch; đồng thời tách tranh chấp về việc đòi lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thành vụ án khác do tính chất phức tạp.
  • Bất cập thực tiễn nhận diện: Các bên thường chuẩn bị kỹ lưỡng hồ sơ công chứng khiến công chứng viên rất khó phát hiện dấu hiệu giả tạo nếu chỉ dựa trên mức giá chuyển nhượng thấp hơn thị trường; việc khôi phục tình trạng ban đầu gặp nhiều trở ngại khi tài sản bị hao mòn, biến động giá trị hoặc thất lạc giấy tờ sở hữu.

Chương 3: Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo và hậu quả pháp lý

Chương 3 đề xuất định hướng hoàn thiện khung pháp lý và giải pháp nâng cao hiệu lực thực thi:

  • Bổ sung định nghĩa pháp lý rõ ràng và thống nhất về "giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo" vào văn bản luật, tránh sự đồng nhất máy móc giữa mọi hành vi giả tạo với giao dịch vô hiệu tuyệt đối.
  • Quy định chi tiết cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý đặc thù đối với giao dịch giả tạo, đặc biệt là hướng dẫn định giá tài sản hoàn trả và xác định mức độ lỗi của các bên khi cùng thông đồng xác lập giao dịch trái pháp luật.
  • Nâng cao trách nhiệm và thẩm quyền nghiệp vụ của công chứng viên trong quy trình thẩm tra ý chí thực của các bên khi công chứng hợp đồng định đoạt bất động sản.
  • Tăng cường cơ chế phối hợp thông tin giữa Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Thi hành án dân sự và văn phòng đăng ký đất đai nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Làm rõ bản chất pháp lý của giao dịch dân sự giả tạo dưới góc độ lý luận và luật thực định, chứng minh giao dịch giả tạo mang bản chất vô hiệu tuyệt đối do khiếm khuyết yếu tố tự nguyện và sự thống nhất ý chí.
  • Hệ thống hóa toàn diện 5 nhóm hậu quả pháp lý theo Điều 131 và khẳng định tính chất không giới hạn thời hiệu yêu cầu tuyên bố vô hiệu theo Khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Phân tích chi tiết án văn thực tế (Bản án số 68/2019/DS-ST của TAND quận Ninh Kiều), qua đó làm rõ thực tiễn Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng vay bị che giấu và áp dụng linh hoạt việc tách các yêu cầu bồi hoàn phức tạp sang vụ án khác.

Giải pháp và kiến nghị

  • Kiến nghị chuẩn hóa khái niệm giao dịch giả tạo và ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết về tiêu chí nhận diện 3 điều kiện xác định hành vi tẩu tán tài sản trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba.
  • Đề xuất quy trình xử lý tài sản hoàn trả khi có sự chênh lệch giá trị do biến động thị trường hoặc do hành vi đầu tư tôn tạo tài sản của bên nhận.
  • Đề xuất tăng cường liên thông dữ liệu công chứng - đăng ký quyền tài sản để hỗ trợ công chứng viên nhận diện các hợp đồng giả cách chuyển nhượng che giấu khoản vay.

Đóng góp mới của khóa luận

Khóa luận đã phát triển và cập nhật nghiên cứu so với các công trình đi trước:

  • Khắc phục hạn chế của các giáo trình và sách bình luận (Nguyễn Minh Tuấn, Đỗ Văn Đại năm 2016) vốn chỉ phân tích khái lược điều luật, bằng cách đi sâu vào cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý đa chiều.
  • Cập nhật cơ sở pháp lý mới trên nền tảng Bộ luật Dân sự năm 2015, thay thế các luận điểm dựa trên Bộ luật Dân sự 2005 đã hết hiệu lực trong luận án của Nguyễn Văn Cường (2005) hay luận văn của Vũ Thị Thanh Nga (2011).
  • Mở rộng phạm vi phân tích chuyên sâu hậu quả pháp lý và quyền của bên thứ ba ngay tình, khắc phục tính đơn lẻ chỉ tập trung vào việc tuyên bố vô hiệu ở các luận văn của Trần Thị Nguyên (2021) và Phạm Thị Bảo Anh (2021).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn của khóa luận tập trung chủ yếu vào nhóm tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất che giấu hợp đồng vay tài sản; dữ liệu bản án được khai thác giới hạn trong thời kỳ áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 và tập trung vào một số địa bàn Tòa án cấp quận/huyện.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu thực tiễn áp dụng đối với các giao dịch giả tạo trong lĩnh vực thương mại phức tạp, mua bán doanh nghiệp, giao dịch chứng khoán hoặc các hợp đồng giả tạo có yếu tố nước ngoài; nghiên cứu sâu hơn về trách nhiệm hình sự liên đới phát sinh từ hành vi xác lập giao dịch giả tạo để lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc trốn thuế.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên chuyên ngành Luật Dân sự, học viên cao học, nghiên cứu sinh luật học; thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư và công chứng viên làm việc trong lĩnh vực tố tụng dân sự và chứng nhận giao dịch.
  • Nội dung đáng giá: Bảng phân loại giao dịch giả tạo; sơ đồ tổng hợp 5 nhóm hậu quả pháp lý theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015; phần phân tích bình luận chuyên sâu về kỹ năng xét xử và xử lý hậu quả pháp lý trong Bản án số 68/2019/DS-ST của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Cần Thơ.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng bị che giấu sau một giao dịch dân sự giả tạo có đương nhiên bị vô hiệu hay không? Không. Theo Khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015, chỉ có giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo bị vô hiệu; giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực pháp luật nếu giao dịch đó đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định của luật chuyên ngành liên quan.

2. Giao dịch dân sự xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba bị coi là vô hiệu khi thỏa mãn các điều kiện nào? Theo nội dung phân tích trong khóa luận, giao dịch này vô hiệu khi hội đủ 3 điều kiện: (1) Nghĩa vụ với người thứ ba đã đến kỳ hạn hoặc sắp đến kỳ hạn thực hiện; (2) Người có nghĩa vụ không còn tài sản nào khác ngoài tài sản đã định đoạt; (3) Hành vi định đoạt tài sản khiến người có nghĩa vụ không còn đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ đối với bên thứ ba.

3. Quyền lợi của bên ngay tình đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản của giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo được xử lý như thế nào? Theo Khoản 3 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Hoa lợi, lợi tức đã thu được tách biệt khỏi số phận pháp lý của tài sản hoàn trả và quyền sở hữu đối với phần hoa lợi, lợi tức này của bên ngay tình vẫn được pháp luật bảo vệ.

4. Trong Bản án số 68/2019/DS-ST tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, Tòa án đã đưa ra phán quyết như thế nào đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và khoản nợ vay? Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 183m² tại huyện Phong Điền vô hiệu do là giao dịch giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay; đồng thời công nhận hợp đồng vay 100.000.000 đồng có hiệu lực và buộc bị đơn trả số tiền nợ gốc còn lại là 90.000.000 đồng cho nguyên đơn (do nguyên đơn không yêu cầu tính lãi).

5. Thời hiệu để người có quyền lợi liên quan gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu là bao lâu? Căn cứ Khoản 3 Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo thuộc nhóm vô hiệu tuyệt đối nên thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu là không bị hạn chế về mặt thời gian.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Quỳnh Hương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về giao dịch dân sự được xác lập một cách giả tạo và cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý theo Bộ luật Dân sự năm 2015. Thông qua việc phân tích án văn thực tiễn tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, công trình đã làm sáng tỏ trình tự xử lý giao dịch bị che giấu cũng như những vướng mắc phát sinh trong khâu công chứng và thi hành án. Các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả áp dụng được đề xuất trong khóa luận cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho hoạt động xét xử dân sự tại Việt Nam.