Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT HIỆN HANH VE QUYEN CUA BỊ CÁO TRONG TO TUNG HÌNH SỰ 1. Những van dé chung về quyền của bi cáo trong tố tung hình sự 1. Khái niệm bị cáo và quyền của bị cáo trong tô tụng hình sự. “ Bi cáo” là thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá nhiều trong hoạt động tư pháp.
Ngay trong các sắc lệnh về tổ chức các cơ quan tư pháp do Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ky từ năm 1945 đã sử dụng rất phổ biến thuật ngữ này. Tuy nhiên, mãi đến năm 1974, trong bản hướng dẫn về trình tự tố tụng sơ thâm về hình sự kèm theo thông tư số 16/TANDTC ngày 27/9/1974 của TANDTC mới đưa ra định nghĩa về bị cáo. Theo đó, “ Bi cáo là người bi truy cứu trách nhiệm hình sự trước Toa an nhán dan. Trong giai đoạn xét xử TAND chỉ được dua một người ra xét xử voi tu cách là bị cáo nếu VKSND đã truy tô người đó trước TAND, nếu VKS không truy tô thì TAND không được xét xử một người với tư cách là bị cáo trừ những người mà TAND xét xử về việc hình sự nhẹ”.
Sau nay, BLTTHS năm 1988 ra đời đã thay đôi khái niệm bi cáo tại Điều 34 và tại Điều 50 BLTTHS hiện hành quy định “ Bi cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử”. Như vay, kế từ thời điểm Tham phán được phân công chủ tọa phiên toà ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị can trở thành bị cáo và tư cách này tồn tại suốt giai đoạn xét xử sơ thâm, phúc thâm và chỉ chấm dứt khi vụ án bị đình chỉ hoặc khi bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Cũng như những chủ thê khác trong TTHS, bên cạnh các quyền chung bị cáo cũng có những quyền độc lập của mình. Việc xác định một người có tư cách bị cáo từ khi nào là điều rất quan trọng.
Bởi vì, khi trở thành bị cáo thì người này sẽ được hưởng những quyền nhất định được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự, khi đó quyền của bị cáo trong tố tụng sẽ thay đôi so với thời điểm ho được gọi là bị can. Vậy “ quyên” của bị cáo được hiểu như thế nào? “ Quyên là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được doi hỏi” [2], như quyền công dân, quyền bau cử và ứng cử, quyền sống của con người. Tuy nhiên, cũng có khái niệm cho rang: “ Quyên là thể, sức mạnh, lợi lộc được hưởng do pháp luật công nhận hoặc do địa vị đem lai” [3]. Theo Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý — Bộ Tư pháp thì: “ quyên là một khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế”.
Theo đó thì thuật ngữ “ guyén” có hai dau hiệu đặc trưng đó là: Thứ nhất, quyền phải có sự thừa nhận về mặt pháp lý và được đảm bảo thực hiện bởi các qui định của pháp luật. Thứ hai, quyền phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với các chủ thé cá nhân, được thé hiện cụ thé trong thực tế đời song thông qua các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định. Quyền của một cá nhân được phát sinh, tăng hay giảm tùy theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội. Các quyền cơ bản của cá nhân phát sinh khi cá nhân sinh ra và có những quyên cụ thé khác chỉ phát sinh và được ghi nhận khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn nhất định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định.
Ngoài ra, quyền của cá nhân có thể được phát sinh do người khác ủy quyên. Tuy nhiên, quyền của cá nhân cũng phải chịu sự chi phối của phạm vi quyền, gắn với các nghĩa vụ của cá nhân cũng như chịu sự tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật quốc gia cũng như trên vùng lãnh thé nhất định. Quyền của cá nhân cũng chỉ có thé bị tước bỏ bởi pháp luật và trong đời sống xã hội, quyền của cá nhân luôn là vấn đề trung tâm. Theo sự phát triển ngày càng tiến bộ của xã hội, phạm vi các quyền của cá nhân ngày càng được phát triển mở rộng theo hướng đa dạng hóa.
Đồng thời, theo qui luật tất yếu của cuộc sống, quyền luôn gắn liền với nghĩa vụ, người thực hiện nghĩa vụ thì phải được hưởng quyền và những người được trao cho những quyền nhất định thì cũng đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ tương ứng với những quyền được trao. Quyền của người này có thé là nghĩa vụ của người khác và một người chỉ có thé thực hiện được các quyền năng của mình khi người khác phải nghiêm chỉnh chấp hành các nghĩa vụ của họ đối với chủ thé có quyền. Hiện nay chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra định nghĩa về quyền của bị cáo. Sau quá trình tìm hiểu và nghiên cứu một số tài liệu, theo cách hiểu của chúng tôi thì “ Quyên của bị cáo là tổng thể các diéu mà pháp luật quy định cho họ được hưởng, được làm, được doi hỏi từ khi có quyết định của Thẩm phản đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật`.
Ý nghĩa của việc quy định quyền của bị cáo trong tô tụng hình sự. Quyền của một chủ thé giúp phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thé pháp luật khác, đồng thời quyền của chủ thể đó cũng có thê xác định vị trí và tam quan trọng của chủ thé đó trong mối quan hệ pháp luật. Chính vì vậy, việc quy định quyền cho một chủ thé trong quan hệ pháp luật là một điều cần thiết không chỉ đối với chính chủ thé đó mà còn có ý nghĩa với chủ thé khác. Có như vậy, mỗi chủ thé trong quan hệ pháp luật mới không xâm phạm quyền và thực hiện chồng lẫn nghĩa vu của nhau.
Theo đó, việc quy định quyền của bị cáo có nhiều ý nghĩa quan trọng. * Ý nghĩa chính trị Việc quy định quyền của bị cáo góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. Quyền con người có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Quyền con người luôn là vấn đề được các nước trên thế giới quan tâm, đề cập trong các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia.
Ở Việt Nam quyền con người được ghi nhận tại Hiến pháp và các văn bản dưới luật khác. Việc ghi nhận quyền của bị cáo tại BLTTHS năm 2003 đã tạo ra một hành lang pháp lý quan trọng giúp bị cáo thực hiện đầy đủ các quyên t6 tụng của mình, đồng thời là bao đảm pháp ly cho việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trước sự xâm phạm của những chủ thể khác. * Ý nghĩa xã hội Trước đây, trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự, quyền của bị cáo chưa 10 được xác định rõ ràng nên họ thường bị coi là có tội. Dưới con mắt của nhiều người thì bị cáo chính là người phạm tội mặc dù chưa có bản án kết tội của Tòa án.
Họ luôn có sự thành kiến phân biệt đối xử với bị cáo. Việc BLTTHS đã quy định chi tiết rõ ràng các quyền của bi cáo giúp họ ý thức được quyền của họ trong các quan hệ pháp luật nói riêng và trong mối quan hệ trong xã hội nói chung. Bên cạnh đó, làm sáng tỏ sự nghi ngờ của mọi người xung quanh đối với người đã bị Tòa án đưa ra xét xử. Dong thời, tránh sự vi phạm quyên và lợi ích hợp pháp của bị cáo trước những chủ thê khác.
Ngoài ra, việc quy định quyền của bị cáo còn giúp họ thực hiện quyền của mình trong khuôn khổ mà pháp luật quy định. Như vậy, có thé thấy việc nam vững quyền của bị cáo có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết vụ án hình sự, dam bảo xét xử đúng người đúng tội. Trước khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực, BLTTHS năm 1988 và một số văn ban pháp luật trước đó đã ghi nhận khái niệm bị cáo và cơ bản đã quy định quyền của bị cáo. Với sự hoàn thiện hơn nữa tại BLTTHS năm 2003 đã đảm bảo cho bị cáo có quyền tốt nhất khi tham gia vào các quan hệ t6 tụng hình sự.
Sơ lược lịch sử lập pháp về quyên của bị cáo trong to tụng hình sự Việt Nam Trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời thì pháp luật TTHS Việt Nam chưa hề có một qui định thống nhất về quyền của bị cáo mà đơn thuần chỉ là những qui định gián tiếp, riêng lẻ nằm tản mạn trong các văn bản pháp luật khác nhau. Qua mỗi thời kì các qui định về quyền của bị cáo ngày càng được quan tâm xây dựng một cách hoàn thiện hơn. Cho đến khi BLTTHS năm 2003 ra đời thì pháp luật TTHS Việt Nam đã thực sự có được những qui định cu thể và toàn diện nhất về quyền của bị cáo. Thời kì thực dân Pháp xâm lược ở Việt Nam có tới 3 BLTTHS khác nhau được áp dụng tại Bắc Kì, Trung Ki, Nam Kì.
Trong đó, theo BLTTHS được áp dụng ở Bắc Ki thì người tham gia t6 tụng được phân loại thành: Bi can, bi cáo; người làm chứng và người bị hại. Khái niệm bị can, bị cáo vẫn được đồng nhất và chưa có sự phân biệt rõ ràng trong thời kì này. Ở một số qui định của bộ luật lãi này đã dé cập đến van đề quyên của bị can. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rang dù đã có được những qui định ban đầu về quyền của bị can nhưng trong bộ luật này vẫn chưa thực sự xác định được ranh giới giữa hai khái niệm bị can, bị cáo.
Trong một số quy định của bộ luật này cho thấy răng hai khái niệm này dường như đã bị trộn lẫn khi mà ngay trong giai đoạn xét xử thì tư cách tố tụng của người bị buộc tội vẫn là bị can. Cụ thé: Bộ luật TTHS Bắc Ki có quy định về quyền được tham gia phiên tòa, quyền được tranh luận tại phiên /òa cũng như quyén kháng cáo của bị can: “ Ở trước phiên tòa, quan chánh thẩm phán tòa tỉnh phải thân hành củ vấn và đối chất với các bị can.