LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình phát triển của lich sử loài người mọi sự biến đổi về kinh tế, chính trị, xã hội đều xuất phát từ lao động. Lao động được coi là hoạt động sáng tạo của con người có thể quyết định sự phát triển của cả một thời đại lịch sử loài người. Vì vậy, quyền lao động nói chung và quyền làm việc nói riêng là một trong những quyền co ban nhất trong phạm trù quyền con người mà các pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế ghi nhận trong những văn bản có giá trị cao nhất.
Trong lĩnh vực pháp luật quốc tế, ngay trong bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ghi nhận: “.Moi người déu có quyên làm việc, quyên tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp. ”! Như vậy, quyền làm việc là một trong những quyền cơ bản của con người được các văn bản quốc tế về quyền con người công nhận. Quyền làm việc là quyền con người có vai trò là cơ sở dé thực hiện các quyền con người khác. Do đó, hoàn thiện pháp luật về quyền làm việc không chỉ là yêu cầu quan trọng trong việc bảo đảm và thúc đây quyền con người mà còn là cơ sở để phát triển kinh tế quốc gia, thực hiện tận tâm, thiện chí các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, cho tới nay, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối thiết thực, hiệu quả nhằm bảo đảm quyền làm việc như tăng số lượng việc làm, thay đổi cơ cấu lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Với ý nghĩa đó, dé thiết lập hành lang pháp lý nham bảo đảm quyền làm việc, Nhà nước đã cụ thé hóa các chủ trương, đường lối của Đảng băng việc sửa đối, bổ sung, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật Lao động, Luật Bao hiểm xã hội, Luật Người lao động Việt Nam di làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Việc làm. và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo đảm quyền làm việc đồng thời phát huy tối đa nội lực, tận dụng tốt nhất thế mạnh về nguồn nhân lực của quốc gia, tạo nhiều việc làm cho người lao động. Ngoài ra, Nhà nước đã ban hành các chính sách bao đảm quyền làm việc cho nhóm dễ bị tổn thương, như các chế độ ưu đãi đối với lao động là người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em,.
góp bảo đảm quyền làm việc, nâng cao thu nhập, ôn định cuộc sống cho các nhóm này. Các chính sách và pháp luật kê trên bước đầu đã phát huy được tác dụng tích cực, bao đảm ngày càng tốt hơn quyền làm việc; đồng thời, tạo hành lang pháp lý cho các ! Theo Khoản 1, Điều 23, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Đại hội đồng Liên hợp quốc 3 quan hệ lao động phát triển làm tiền đề phát triển kinh tế quốc gia. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các chính sách, pháp luật đã bộc lộ những van dé hạn chế, bat cập nhất định. Bất bình đăng giới vẫn tồn tại trong lao động và tiếp cận việc làm; lao động cưỡng bức, quyền làm việc của trẻ em.vẫn là những vấn đề nóng cần phải tiếp tục giải quyết.
Một số yêu cầu, thách thức đề đặt ra đối với quyền làm việc trong giai đoạn hiện nay như bảo đảm quyền làm việc trong bối cảnh dịch bệnh, quyền làm việc và các chính sách nhằm chống biến đối khí hậu, quyền làm việc của lao động di cư. Thực trạng trên cho thấy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận, kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn quyền làm việc từ đó đưa ra những định hướng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật trong đó có việc sửa đôi, bỗ sung Luật Việc làm liên quan tới quyền làm việc có ý nghĩa quan trọng và có tính cấp thiết. Chính vì vậy, nhóm tác giả lựa chọn dé tài: “Quyền làm việc trong pháp luật quốc tế, pháp luật một số quốc gia và những đề xuất hoàn thiện pháp luật về quyền làm việc ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Tại Việt nam cũng như các nước trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau về quyền làm việc cụ thé như sau: 2.
Tình hình nghiên cứu trong nước 2. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận chung về quyền con người - Bộ sách về quyền con người được triển khai trong khuôn khổ dự án “Diễn đàn giáo đục về quyền con người” do tác giả Võ Khanh Vinh là chủ biên và “Giáo trinh Lý luận và Pháp luật về con người” do tác giả Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao và Lã Khánh Tùng đồng chủ biên. Các công trình này nghiên cứu các van đề lý luận, lich sử về quyền con người, đảm bảo thực hiện và cơ chế bảo vệ quyền con người; Cơ chế quốc tế bảo đảm quyền con người; Quyền con người trên các lĩnh vực cụ thé. - Cuốn sách “Những vấn dé ly luận và thực tiên của nhóm quyền kinh tế, văn hóa và xã hoi’ của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, do Võ Khánh Vinh làm chủ biên.
Day là công trình có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận và thực tiễn khi nghiên cứu về quyền con người trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Đây là công trình nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện về quyền con người theo Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR). Cuốn sách này đã nêu rõ nội hàm các quyền, bảo vệ quyền của NLĐ được ghi nhận trong ICESCR. Tuy nhiên, cuốn sách này dừng lại ở các van đề chung nhất về tat cả các quyền 4 kinh tế, văn hóa mà không phân tích sâu sắc, cụ thé vào nội hàm, các yếu tố tác động va các van dé đặt ra trong thực tiễn của mỗi quyền cũng như quyền làm việc nói riêng.
- Cuốn sách “Giới thiệu Công ước quốc tế về các quyên kinh tế, xã hội và văn hóa” Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội (2012), Nxb. Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện quyền về con người theo ICESCR, công trình tập trung đi sâu phân tích nội hàm các quyền được ghi nhận trong ICESCR, các Bình luận/Khuyến nghị chung của Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa của UN, mô tả cơ chế giám sát việc thực thi ICESCR. Công trình này có một số nội dung phân tích, bình luận về quyền làm việc của NLD. - Cuốn sách “Quyên con người, quyên công dân trong Hiến pháp Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Động, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, năm 2005, 253 trang, sách gồm 4 chương, có nội dung bao quát toàn diện về quyền con người, quyền công dân và vai trò của pháp luật đối với việc bảo đảm các quyền con người, quyền công dân ở nước ta.
- Cuén sách “Quyển con người, quyên công dân trong Nhà nước pháp quyên xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Đường, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2004, 356 trang: nội dung của cuốn sách trình bày về các quan niệm về quyền con người, quyền công dân, nghĩa vụ của cá nhân công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; sự phát triển về mặt pháp lý cũng như thực tiễn về quyền con người, quyền công dân qua Hiến pháp 1946, 1959 và1980. - Bài viết “Các điểu kiện bảo đảm quyên kinh tế” của PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2011. Bài viết phân tích các điều kiện cơ bản đề bảo đảm quyền kinh tế. Theo đó, quyền con người về kinh tế bao hàm quyên làm việc và các quyền liên quan đến quá trình làm việc của người lao động, tác giả đã chỉ ra ba điều kiện để bảo đảm quyền kinh tế, đi sâu phân tích, luận giải các điều kiện bao đảm quyền lao động, việc làm ở Việt Nam.
Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp cấp bách nham tăng cường đảm bảo quyền làm việc ở Việt Nam. Các công trình trên, hoặc là nghiên cứu mang tính tông thê đối với việc quyền con người nói chung mà chưa tập trung vào van đề quyên việc làm. Đề tai sẽ kế thừa các van đề lý luận chung về quyền con người, đồng thời nghiên cứu sâu sắc hơn các vấn đề lý luận về quyền làm việc dưới góc độ quyền con người. Các công trình nghiên cứu về quyền của người lao động - Cuốn chuyên khảo “Bảo đảm quyên con người trong pháp luật lao động” Nhà xuất bane Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013 do PGS.TS Lê Thị Hoài Thu làm chủ biên.
Trong 5 nội dung tài liệu, phần “những quyền cơ bản trong lao động Việt Nam” có đề cập đến quyền được làm việc hay gọi là quyền về việc làm là nhóm quyền cơ bản của con người trong lao động, quyền làm việc là cốt lõi để thực hiện các quyền con người khác. Nhóm tác giả cho rằng về cơ bản các quyền con người trong lao động là những quyền liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội. Và quyền con người trong lao động là một bộ phận của hệ thống các quyền con người nói chung thuộc phạm trù các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội. Điều này xuất phát từ QHLĐ, khi NLĐ luôn ở vị trí yếu thế hơn so với NSDLĐ, là người phải thực hiện các nghĩa vụ lao động nên thường phải đối mặt với các rủi ro dan đến quyền con người của họ rất đễ bị xâm phạm.
Trong khi đó, NLD lại là lực lượng xã hội quan trọng, quyết định sự phát triển kinh tế, 6n định xã hội của đất nước. Điểm đáng chú ý ở nội dung cuốn sách nay, đó là tác giả đã phân tích và luận giải về hai thuật ngữ thường gặp, đó là “quyền con người trong lao động” và “quyền của người lao động”. Theo đó, nếu phân tích chi tiết, thấu đáo thì hai thuật ngữ này có sự khác nhau nhất định. Cụ thể, khi nói “quyền của con người trong lao động” tức là muốn nói quyền con người trong lĩnh vực lao động và các lĩnh vực khác như “chính trị”, “văn £99) về hóa”, “giáo dục”, “xã hội”.