chương ITO đã được thông qua tại Hội nghị về Thương mại và Việc làm của Liên hiệp quốc tại Havana. Tuy nhiên, quốc hội của một số nước đã không phê chuẩn Hiến chương này, đặc biệt là Quốc hội Mỹ. Tháng 12/1950, Chính phủ Mỹ chính thức thông báo sẽ không vận động Quốc hội thông qua Hiến chương Havana nữa, như vậy trên thực tế, Hiến chương này không còn tác dụng. Và mặc dù chỉ là tạm thời, GATT trở thành công cụ đa phương duy nhất điều chỉnh thương mại quốc tế từ năm 1948 cho đến tận năm 1995, khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời.
- Bên cạnh những kết quả đã mang lại cho thương mại thế giới trong 47 năm tồn tại của mình, GATT cũng bắt đầu tỏ ra có những bắt cập không theo kịp sự phát triển nền kinh tế thế giới. Trước tình hình đó các bên tham gia GATT thấy cần thiết phải củng cố và mở rộng hệ thống thương mại đa biên. - Từ năm 1986 đến 1994, Hiệp định GATT và các hiệp định phụ trợ của nó đã được các nước thảo luận, sửa đổi và cập nhật dé thích ứng với những thay đổi của môi trường thương mại thế giới. Hiệp định GATT 1947 cùng với các quyết định đi kèm và các biên bản giải thích khác đã hợp thành GATT 1994.
Một sé hiệp định riêng biệt cũng đạt được trong các lĩnh vực như Nông nghiệp, Dệt may, Trợ cấp, Tự vệ và các lĩnh vực khác; cùng với GATT 1994, tạo thành các yếu tố của các Hiệp định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá. Trong vòng đàm phán Uruguay các nước đã cho ra Tuyên bố Marrakesh thành lập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Tuyên bồ này có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/01/1995. Đồng thời cũng tại Vòng đàm phán này, lần đầu tiên các quy định mới điều chỉnh về dịch vụ và SHTT liên quan đến thương mại đã được ký kết và đi vào thực thi sau một thời gian dài thảo luận hết sức căng thăng và đôi khi tưởng chừng như đi vào bế tắc. Các nội dung cơ bản về Tổ chức thương mại thé giới b.
Mục tiêu của WTO: Với mong muốn thành lập một tổ chức quốc tế với quy mô phức tạp nhằm thực hiện tốt hơn những mục đích đã được nêu ra tại GATT 1947. Bên cạnh lĩnh vực thương mại hàng hóa, WTO còn điều chỉnh các lĩnh vực khác như: Thương mại dịch vụ, sở hữu trí tuệ và các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại. Vì vậy có thể nói với việc thành lập WTO, các quốc gia đã đặt một kỳ vọng rất lớn lao vào vai trò lãnh đạo của thể chế này. Do đó, WTO được thành lập nhằm đạt ba mục tiêu chủ yếu sau: 1)Muc tiéu vé kinh té: Mong muốn thúc đây tiễn trình tự do hóa thương mại, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
Điều này có nghĩa WTO yêu cầu các thành viên cần phải có một sự áp dụng thống nhất các tiêu chuẩn, bất kỳ sự thay đổi nào về chính sách thương mại cũng phải được thông báo trước, đó chính là yêu cầu về “tính minh bạch”; 2)Mục tiêu chính trị: Các thành viên mong muốn WTO sẽ là trung tâm trong việc giải quyết và dàn xếp thương lượng các tranh chấp thương mại phù hợp với những quy tắc chung của pháp luật quốc tế. Bên cạnh đó, WTO cũng đảm bảo cho những nước đang phát triển mà trong đó đặc biệt là các nước kém phát triển nhất những ưu đãi trong quan hệ thương mại quốc tế để các nước này có những điều kiện được thụ hưởng các lợi ích từ sự tăng trưởng của thương mại quốc tế nhằm phục vụ cho nhu cầu phát triển của mình; và 3) Muc tiêu xã hội: Đây là mục tiêu được các Bộ trưởng nêu ngay đầu tiên trong Tuyên bố Marrakesh đó là: nhằm nâng cao mức sống, tạo công ăn, việc làm và thu nhập cho người dân của các nước thành viên. Nói một cách ngắn gọn WTO thừa nhận các mục tiêu của GATT tức là quan hệ giữa các nước thành viên trong thương mại và kinh tế sẽ được tiến hành nhăm: - Nâng cao mức sống; - Bảo đảm tạo đầy đủ việc làm; tăng trưởng vững chắc thu nhập và nhu cầu thực tế; - Phát triển việc sử dụng các nguồn lực của thế gidi; - Mở rộng sản xuất và trao đôi hang hóa. Những nguyên tắc hoạt động cơ bản của WTO: Xuất phát từ mục tiêu, tôn chỉ hoạt động của mình, dựa trên một bộ các luật lệ và quy tắc tương đối đầy đủ, phức tạp và chặt chẽ, bao gồm trên 60 hiệp định, phụ lục, quyết định và giải thích khác nhau, điều chỉnh, áp dụng cho các thương mại hiện hành trên thế giới trong nhiều lĩnh vực hoạt động như: Thương mại liên quan đến hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, tất cả các văn bản đó đều được xây dựng trên cơ sở của một số nguyên tắc đơn giản và cơ bản xuyên suốt - các nguyên tắc này là nền tảng của hệ thống thương mại đa biên. - Nguyên tắc thứ nhất: Thương mại không phân biệt đối xử + Đãi ngộ tối huệ quốc (MEN): WTO yêu cầu một nước thành viên phải áp dụng thuế quan và các quy định khác đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước thành viên khác nhau (hoặc hàng hóa xuất khẩu tới các nước thành viên khác) một cách bình đăng, không phân biệt đối xử. Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ nước thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳ một ưu đãi nào khác thì cũng phải dành cho tất cả các thành viên khác ngay lập tức và vô điều kiện. WTO cũng cho phép các nước thành viên được duy trì một sé ngoại lệ của chế độ này.
+ Đối xử quốc gia (NT): Theo quy định tắc này mỗi thành viên sẽ không dành cho sản phẩm của công dân nước mình đối xử ưu đãi hơn so với sản phẩm của nước ngoài. Tức là, hàng nhập khâu và hàng nội địa phải được đối xử bình đăng, ngay sau khi hàng nhập khẩu đã thâm nhập vào thị trường. Nguyên tắc MEN và NT lúc đầu chỉ được áp dụng trong lĩnh vực thương mại hàng hoá, sau khi WTO ra đời thì nó được mở rộng cả sang thương mại dịch vụ, các khía cạnh liên quan đến thương mại của SHTT, tuy nhiên mức độ áp dụng của quy tắc này trong các lĩnh vực là khác nhau. Trong thương mại hàng hoá: MEN và NT được áp dụng tương đối toàn điện và triệt dé; Trong thương mại dịch vụ: MEN và NT cũng được áp dụng với những lĩnh vực mà một thành viên đã cam kết mở cửa thị trường, với những lĩnh vực dịch vụ còn duy trì hạn chế thì việc dành MEN và NT tuỳ thuộc vào kết quả đàm phán các cam kết cụ thé; Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: các đãi ngộ quốc gia trên đã được thê chế hoá cụ thé và phổ biến trong các công ước quốc tế liên quan đến sở hữu trí tuệ.
- Nguyên tắc thứ hai: Tạo dựng một nền tảng ôn định cho thương mại Các nước thanh viên WTO có nghĩa vụ đảm bảo tính ổn định cho thương mại quốc tế, thông qua việc các nước ràng buộc thuế quan của mình. Các nước chỉ có thé tăng thuế quan sau khi đã tiến hành đàm phán lai và đã đền bù thoả đáng cho lợi ích các bên bị thiệt hại do việc tăng thuế đó. Dé đảm bảo nguyên tắc này, các nước thành viên WTO có nghĩa vụ phải minh bạch hoá các quy định thương mại của mình, phải thông báo mọi biện pháp đang áp dụng va ràng buộc chúng. - Nguyên tắc thứ ba: Thương mại ngày càng tự do hơn thông qua đàm phán WTO đảm bảo thương mại giữa các quốc gia ngày càng tự do hơn thông qua quá trình đàm phán hạ thấp các hàng rào thương mai dé thúc đây buôn bán.
Kê từ năm 1948 đến nay, GATT - mà nay là WTO, đã tiến hành 8 vòng đàm phan dé giảm thuế quan, dỡ bỏ các hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường. Dé thực hiện nguyên tắc này, WTO đảm nhận chức năng là diễn đàn đàm phán thương mại đa phương dé các nước có thé liên tục thảo luận về van đề tự do hoá thương mại. - Nguyên tắc thứ tư: Tao ra môi trường cạnh tranh ngày càng bình dang WTO là một hệ thống các nguyên tắc nhằm thúc day cạnh tranh tự do, công bằng và không bị bóp méo. Tất cả các Hiệp định của WTO như về nông nghiệp, dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ.
đều nhằm mục tiêu tạo một môi trường cạnh tranh ngày càng bình đăng hơn giữa các quốc gia. - Nguyên tắc thứ năm: Điều kiện đặc biệt dành cho các nước đang phát triển Với 2/3 số thành viên của mình là các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyên đối, một trong những nguyên tắc cơ bản của WTO là khuyến khích phát triển, dành những điều kiện đối xử đặc biệt và khác biệt cho các quốc gia nay, VỚI mục tiêu đảm bao su tham gia sâu rộng hon của họ vào hệ thống thương mại đa phương. Thực hiện nguyên tắc này, WTO dành cho các nước đang phát triển, các nền kinh tế chuyên đổi những linh hoạt và ưu đãi nhất định trong việc thực thi các hiệp định, đồng thời chú ý đến trợ giúp kỹ thuật cho các nước này. Chức năng hoạt động cua WTO: Nhằm thực hiện các mục tiêu va nguyên tắc trên, WTO có 5 chức năng cơ bản được quy định tại Điều III của Hiệp định Marrakesh thành lập WTO, cụ thể như sau: -10- - Thứ nhất: Giám sát và điều chỉnh việc thực hiện các hiệp định và thỏa thuận trong khuôn khổ của WTO.
Chức năng nay được thực hiện dưới hình thức giám sát việc thực thi các nghĩa vụ của các thành viên; - Thứ hai: Giúp đỡ và tạo điều kiện cho các thành viên thực thi các nghĩa vụ và hưởng các quyền lợi được quy định trong các Hiệp định của WTO; - Thứ ba: WTO vẫn sẽ là bộ máy để các thành viên tiến hành các vòng đàm phán về những nội dung đã được quy định trong các Hiệp định của WTO và các van đề thương mại quốc tế khác theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng; - Thứ tu: WTO theo dõi việc hực hiện Thỏa thuận về các quy tắc và thủ tục điều chỉnh việc giải quyết tranh chấp (DSU). Các phán quyết về việc giải quyết của WTO có tính cưỡng chế; - Thứ năm: WTO có chức năng thường xuyên thực hiện cơ chế rà soát chính sách thương mại (TPRM).